Voyages Saigon, Inc.

           club espresso

           cafe espresso

CLUB EsPRESSO

 

PHỎNG VẤN NGẮN
NHÀ B̀NH LUẬN TRẦN B̀NH NAM VỀ MIẾN ĐIỆN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỎNG VẤN TRẦN B̀NH NAM – “ĐẤT NƯỚC MIẾN ĐIỆN VÀ DÂN CHỦ”

Miến Điện – tên chính thức hiện nay là Myanmar – dành được độc lập từ tay thực dân Anh vào năm 1948. Kể từ cuộc đảo chính năm 1962 lật đổ chính phủ dân cử của Thủ tướng U Nu, tướng Ne Win cùng tập đoàn quân nhân cực hữu do ông đứng đầu lên cầm quyền cho đến năm 1988; Trong gần 3 thập niên ấy Ne Win đă cai trị Miến Điện một cách độc đoán, đặt quyền lợi của tập đoàn cầm quyền lên trên cả quyền lợi đất nước, và áp dụng nhiều kiểu nhà nước chuyên chế, kể cả thử nghiệm một kiểu chính quyền xă hội chủ nghĩa “đầu cua tai nheo” thân Trung Quốc Mao-ít vào thập niên 70. Từng được gọi là “vựa thóc” của vùng Đông Nam Châu Á, đến cuối thời kỳ Ne Win (1987) Miến Điện bị liệt vào danh sách những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Năm 1990, chính quyền quân nhân cho phép tổ chức bầu cử đa đảng, và kết quả Liên Đoàn Quốc Gia v́ Dân Chủ do bà Aung San Suu Kyi lănh đạo đă dành được thắng lợi vang dội. Bất ngờ và sợ hăi trước kết quả ấy, tập đoàn quân phiệt đă tuyên bố hủy bỏ kết quả bầu cử, thẳng tay đàn áp lực lượng dân chủ và cầm tù tại gia lănh tụ Aung San Suu Kyi suốt từ năm 1990 cho đến nay, chỉ trả tự do cho bà trong những giai đoạn ngắn trước áp lực của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Từ ngày ấy đến nay, chính quyền ở Miến Điện, núp dưới danh nghĩa “Ủy ban Quốc gia v́ Ḥa b́nh và Phát triển” (SPDC) – mà trước đó là “Ủy ban Quốc gia Tái hồi Luật pháp và Trật tự (SLORC), vẫn tiếp tục hành xử như một chính quyền độc tài, một thứ “chính quyền Ne Win không có Ne Win”. Chính quyền này, do tướng Than Shwe đứng đầu, đề cao chủ nghĩa dân tộc cực đoan đồng thời với tinh thần bảo thủ về tôn giáo (ở đây là Phật-giáo), một thói quen thường thấy ở các chế độ độc tài cựu hữu; Về đối ngoại nhà cầm quyền Yangon theo đuổi chính sách tự cô lập, chỉ mở cửa một cách hạn chế với các nước trong cùng khu vực, về đối nội th́ thẳng tay đàn áp những tiếng nói đối lập ở trong nước. Năm 1997 Miến Điện chính thức trở thành hội viên của khối ASEAN (Hiệp hội các Quốc gia Đông-Nam-Á).
Tháng 02 năm 2005, Voyages Saigon tổ chức một Tour du-lịch thăm Miến Điện và khu đền Angkor ở Cambodia. Chuyến du-lịch, riêng tại Miến Điện, đă để lại trong ḷng tất cả các thành viên của đoàn những ấn tượng mạnh mẽ đồng thời với những t́nh cảm buồn bă. Khi chờ đợi đổi máy bay tại phi trường Bangkok (Thái Lan), một người trong đoàn đă mua cuốn sách “Tiếng nói của Hi vọng” (“The Voice of Hope”) của bà Aung San Suu Kyi, cuốn sách mà trong chuyến đi nhiều người trong chúng tôi đă chuyền tay nhau đọc và góp ư b́nh luận. Mặc dù đă đoán trước phần nào những ǵ chúng tôi sẽ được tận mắt nh́n thấy, nhưng chúng tôi vẫn ngạc nhiên trước sự nghèo nàn và t́nh trạng lạc hậu về nhiều mặt của đất nước Miến Điện, và ngạc nhiên nhiều nhất trước sự hồn nhiên chân chất, sự hiền lành và tính hiếu khách của người dân Miến. Hầu hết họ đều là những Phật tử thuần thành – thuần thành chứ không cuồng tín – và dường như bất cứ cái ǵ ở họ, từ suy nghĩ đến hành động, cũng đều thấm nhuần tính từ bi của đạo Phật. Họ hiền lành và nhẫn nại, với thái độ chấp nhận hoàn cảnh gần như là thụ động, kể cả thành phần trí thức trẻ năng động nhất sống tại thủ đô Yangon (Ngưỡng Quang).
Đất nước Miến Điện nghèo nàn và lạc hậu ấy, nghịch lư thay, lại cất giữ trong ḷng nó biết bao kho tàng vô giá về lịch sử và văn hóa nói chung, và về mỹ thuật Phật-giáo nói riêng, giữa một thiên nhiên đẹp, hiền ḥa, giàu màu sắc, và gần như chưa hề bị ô nhiễm.
Trần B́nh Nam [www.tranbinhnam.com] – nhà b́nh luận thời cuộc khá quen thuộc trong báo giới Việt ngữ tại Hoa Kỳ – là một thành viên trong đoàn du-lịch “Myanmar & Angkor” của Voyages Saigon vào tháng 02 năm 2005 vừa qua [Xem một vài h́nh ảnh về chuyến du-lịch ấy]. Trong chuyến đi, tôi đă có dịp trao đổi một cách tản mạn với TBN về nhiều khía cạnh xung quanh đề tài “Dân chủ ở Miến Điện” (Dân chủ cho Miến Điện th́ đúng hơn!). Và sau chuyến du-lịch nhiều kỷ niệm ấy, TBN đă vui ḷng dành cho trang CLUB EsPRESSO một bài phỏng vấn ngắn về cùng đề tài nói trên.
Xin được hân hạnh giới thiệu nội dung của bài phỏng vấn này.
Trần Chính.
(California, Dec 31, 2005)

1/ Sau chuyến du-lịch “Trung Quốc mùa Thu” năm 2004, ông đă viết bài “Trung Quốc, đất nước và con người” đăng trên nhiều tờ báo Việt Ngữ tại Hoa Kỳ. Ông lại vừa đi du-lịch thăm Miến Điện và Angkor vào tháng 02, 2005 với Voyages Saigon. Xin hỏi: cảm tưởng chung của ông về Miến Điện, và điều ǵ gây ấn tượng mạnh nhất nơi ông về đất nước ấy?
[TBN] Miến Điện làm tôi ngạc nhiên. Trước khi lên đường tất cả chúng tôi đều đă biết Miến Điện là một nước hậu tiến đang nằm dưới chế độ quân phiệt, nghĩa là một chế độ độc tài, và cũng chỉ mới mở cửa cho du khách nước ngoài. Nhưng đến khi nh́n thấy tận mắt cả một đất nước đắm ch́m trong nghèo khổ và lạc hậu, như bị đẩy lùi lại hằng chục năm, th́ ai cũng phải sững sốt. Nhất là đối với người Việt Nam chúng ta, vốn không xa lạ với khái niệm nghèo khổ và lạc hậu.

2/ Chính quyền quân nhân ở Miến Điện hiện nay bị dư luận trên thế giới nói chung, và đặc biệt là dư luận ở phương Tây, xem là một thứ chính quyền độc tài cực hữu. Ư kiến của riêng ông ra sao?
[TBN] Thật khó miêu tả chính quyền hiện nay ở Miến Điện là loại chính quyền ǵ. Nam Hàn cũng từng nằm dưới chế độ quân phiệt nhưng sau đó đă vươn lên và hội nhập vào thế giới dân chủ. Các chế độ cộng sản tuy không gọi là chế độ quân phiệt nhưng cũng có thể xem là một kiểu chính quyền quân phiệt v́ đảng cầm quyền nắm các lực lượng vũ trang trong tay và không ngần ngại xử dụng các lực lượng này để đàn áp các thành phần đối lập chính trị và người dân nói chung. Nhưng các chế độ cộng sản có riêng một lư thuyết toàn trị mà họ gọi là “chuyên chính vô sản” (“proletarian dictatorship”). Chúng ta không đồng ư với lư thuyết ấy, nhưng ít ra họ có một “học thuyết độc tài” của họ. C̣n chế độ quân phiệt tại Miến Điện th́ không theo một chủ thuyết nào cả. Chính quyền độc tài ở đây hoàn toàn được xây dựng trên sự ham muốn quyền lực của một thiểu số tướng lănh.

3/ Như ông đă tận mắt nh́n thấy, Miến Điện là một nước rất nghèo và lạc hậu về kinh tế. Ông có nghĩ rằng chính sách cai trị độc đoán của chính quyền Yangon hiện nay là nguyên nhân chính và duy nhất?
[TBN] Không c̣n chối căi ǵ nữa, chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hiện nay, dưới danh nghĩa “Ủy ban Quốc gia v́ Ḥa b́nh và Phát triển” (State Peace and Development Council), là nguyên nhân – và là nguyên nhân duy nhất – của t́nh trạng nghèo đói khổ cực của nhân dân Miến Điện. Chính quyền Yangon đổ lỗi cho các biện pháp trừng phạt của thế giới trước t́nh trạng suy sụp về kinh tế ở trong nước, nhưng cách giải thích ấy rơ ràng là không có sức thuyết phục.

4/ Ông đă có dịp nh́n thấy người dân Miến rất sùng bái đạo Phật. Chính quyền quân nhân ở Yangon hiện nay cũng rất sùng kính đạo Phật, hơn thế nữa c̣n giữ vai tṛ bảo trợ cho Phật-giáo. Ông có nghĩ rằng nhân sinh quan Phật-giáo là yếu tố quan trọng dẫn đến thái độ tiêu cực và chịu đựng của người dân Miến hiện nay?
[TBN] Tôi cho rằng ở đây có một sự hiểu lầm về triết lư của đạo Phật. Sự hiểu lầm này thấm nhập vào suy nghĩ của thế giới Tây phương đưa đến nhiều nhận định sai lạc liên quan đến các chính sách tôn giáo và chính trị (của các nước phương Tây). Trong cuốn sách nhan đề “Burn Before Reading” xuất bản gần đây của đô đốc Stansfield Turner (nguyên giám đốc cơ quan T́nh báo Trung ương Hoa Kỳ [CIA] dưới thời tổng thống Jimmy Carter), tác giả có thuật lại một câu chuyện hiểu lầm về Phật-giáo như sau: Năm 1953 khi Pháp đang gặp khó khăn tại Đông Dương, có nhiều đề nghị Mỹ giúp Pháp nhưng tổng thống Eisenhower quyết định không gởi quân sang giúp mà cần lắm th́ có thể chỉ dùng không lực để yểm trợ ngầm cho quân đội Pháp, hoặc t́m một lănh tụ theo Phật-giáo ra giúp. Khi nghe tổng thống Eisenhower nói như vậy th́ một vị cố vấn của tổng thống đă phát biểu: “ông Phật chủ trương ḥa b́nh, thế th́ c̣n đánh chát ǵ nữa!”, khiến tổng thống Eisenhower cười x̣a và tưởng rằng ḿnh c̣n quá ngây thơ.
Không có một cuốn sách đứng đắn nào viết rằng Phật-giáo là tôn giáo chủ trương tinh thần tiêu cực và chịu đựng. Đạo Phật tin vào thuyết “luân hồi” và “nghiệp quả”. Luân hồi là sự sống của mọi sinh vật được tiếp nối từ kiếp này sang kiếp khác, và đời sống hiện tại chính là nghiệp quả tích lũy từ nhiều kiếp trước. Nhưng đạo Phật c̣n tin vào sự “cải nghiệp”, nghĩa là con người có khả năng biến cải nghiệp quả của ḿnh bằng những nỗ lực của chính bản thân để cho đời sống của ḿnh ở kiếp này và những kiếp sau tốt hơn. Đạo Phật không chủ trương chấp nhận nghiệp quả, yếm thế và trở nên thụ động để cho những người cầm quyền muốn “vo tṛn bóp méo” thế nào cũng được. Tuy chính quyền quân phiệt ở Miến Điện có biểu hiện sùng bái đạo Phật, nhưng tôi nghĩ rằng bản thân các tướng lănh cầm quyền không phải là những Phật tử thuần thành. V́ đại đa số dân Miến theo đạo Phật nên nhà cầm quyền Yangon cũng làm ra vẻ tôn sùng đạo Phật, để chứng tỏ rằng họ là những người v́ dân, và luôn luôn hướng về đời sống tinh thần của dân.
Tôi cho rằng người dân Miến không thể quật khởi chống lại chế độ quân phiệt v́ họ bị đàn áp bằng súng đạn, nhà tù và chính sách kiểm soát bao tử. Những chính sách này từng có khả năng giam hăm hàng trăm triệu con người dưới các chế độ cộng sản tại Liên-xô và các nước Đông Âu, và chúng chỉ mới chấm dứt cách đây mười lăm năm.

5/ Nhận định của ông khi so sánh hai hoàn cảnh chính trị - kinh tế của hai nước Miến Điện và Trung Quốc hiện nay?
[TBN] Miến Điện và Trung Quốc chỉ giống nhau ở hai nhà nước độc tài. Tại Miến Điện là đảng “kaki”, và ở Trung Quốc là đảng Cộng sản. Ngoài ra hoàn cảnh chính trị và kinh tế của hai nước không có ǵ giống nhau để so sánh. Người ta có thể biện minh cho đường lối cai trị của đảng Cộng sản Trung Quốc rằng bởi v́ Trung Quốc lớn quá, đông dân quá, mà dân chúng th́ chưa ư thức thế nào là dân chủ cho nên cần có thời gian để giáo dục quần chúng, nâng cao dân trí nhằm tạo căn bản cho sự ổn định. Nhưng người ta khó thông cảm với chính quyền quân nhân ở Miến Điện v́ Miến Điện là nưóc nhỏ, và người dân Miến từng được hấp thụ tinh thần dân chủ qua sự tiếp xúc với Anh Quốc (Miến Điện là cựu thuộc địa của Anh). Ngoài ra mục tiêu chính trị của những người lănh đạo Trung Quốc và Miến Điện khác nhau. H́nh như những người lănh đạo Bắc Kinh muốn biến cải nền kinh tế đất nước để đưa Trung Quốc trở thành một siêu cường trong thế kỷ 21 này. Trong khi đó những người lănh đạo tại Yangon chỉ nhắm vào việc duy tŕ bằng mọi giá quyền hành đang nằm trong tay của họ (một nhóm tướng lănh), mà không hề ngó ngàng ǵ đến đời sống kinh tế của người dân và tương lai của đất nước.

6/ Cả hai chính quyền (cộng sản) ở Bắc Kinh và (cực hữu) ở Yangon đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giữ vững và duy tŕ bằng mọi giá “sự ổn định về chính trị” như tiền đề cho việc phát triển kinh tế đất nước. Ông nghĩ sao?
[TBN] Cái luận thuyết: “ổn định chính trị là môi trường cần thiết cho phát triển kinh tế” đúng ra cũng có cái giá trị thực tiễn của nó. Nhưng các chế độ độc tài lại thường hay dùng luận thuyết đó như một chiêu bài. Có bao giờ ai đặt câu hỏi: thế nào là ổn định chính trị? Muốn ổn định chính trị có nhất thiết phải duy tŕ một chính sách độc tài hay không? Thật ra một chế độ dân chủ với khối quần chúng có tŕnh độ dân trí và với những người lănh đạo có trách nhiệm mới là môi trường tốt nhất cho ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Trên căn bản đó tôi cho rằng lập luận “ổn định chính trị để phát triển kinh tế” chỉ là ngụy biện.
Ở đây c̣n có một yếu tố cần nhắc tới là, nếu người lănh đạo (hay tập đoàn lănh đạo) yêu nước hơn yêu quyền lực th́ chính sách độc tài có thể là con đường ngắn nhất để xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế. Điều này đă được thử nghiệm tại Nam Hàn với tổng thống Park Chung Hee và ở Singapore với thủ tướng Lư Quang Diệu. Nhưng những trường hợp như thế rất hiếm. Và đó không phải là con đường nhắm tới của chính quyền quân phiệt tại Miến Điện, và cũng không phải là con đường đi tới của Trung Quốc. Theo tôi, Trung Quốc có mộng bá quyền hơn là ư muốn dân chủ.

7/ Ông có nghĩ rằng người ta có thể áp dụng mô h́nh mở cửa và phát triển kinh tế của Trung Quốc cho Miến Điện?
[TBN] Nếu những người lănh đạo ở Miến Điện muốn th́ được chứ. Nhưng chắc chắn là họ không muốn, bởi v́ như đă nói ở trên, người (hay tập đoàn) lănh đạo ở mỗi nước có một mục đính khác nhau. Và một khi họ muốn th́ c̣n có nhiều mô h́nh khác hấp dẫn hơn mô h́nh Trung Quốc. Thí dụ như mô h́nh của Nam Hàn, của Đài Loan, của các nước Đông Âu.

8/ Tại thủ đô Yangon, đoàn du-lịch của ông đă được nh́n thấy khu phố và con hẻm dẫn vào ngôi nhà nơi bà Aung San Suu Kyi, người được giải thưởng Nobel về Ḥa b́nh năm 1991, đang bị quản thúc. Ông có tin rằng bà Suu Kyi là nhân tố duy nhất cho tiến tŕnh dân chủ hóa tại Miến Điện?
[TBN] Bà Aung San Suu Kyi được sự ủng hộ của nhân dân Miến, nhưng bà không thể là yếu tố duy nhất cho tiến tŕnh dân chủ tại Miến Điện dưới một chế độ độc tài không ngần ngại dùng bạo lực đề đàn áp đối lập chính trị. Hiện giờ bà đang bị quản thúc, xe cộ tư nhân không được phép chạy đến gần nơi bà ở. Xe của đoàn du lịch có tổ chức được phép chạy gần hơn nhưng vẫn không đủ gần để chúng tôi có thể nh́n thấy ngôi nhà của bà. Tôi nghĩ thế giới cần tăng thêm áp lực kinh tế và chính trị đối với chính phủ quân phiệt ở Yangon, nhất là từ phía Âu Châu và Hoa Kỳ. Nhưng tiếc rằng Miến Điện không có một vị trí chiến lược quan trọng (như Iraq chẳng hạn) nên cho đến nay áp lực đối với chính quyền quân phiệt Miến chỉ được thực hiện bằng lời nói nhiều hơn là hành động.
Nhưng dù sao bà Aung San Suu Kyi cũng sẽ có một vai tṛ quan trọng trong bất cứ biến chuyển chính trị nào xẩy ra tại Miến Điện trong thời gian hữu hạn trước mắt. Đời sống của bà có một mục tiêu rơ ràng là tranh đấu cho một nước Miến Điện dân chủ, và bà có vốn liếng thời gian để chờ đợi.

9/ Trong suốt thời gian du-lịch thăm Miến Điện, ông có bao giờ gặp khó khăn hay bất cứ h́nh thức cản trở nào trong việc tiếp xúc với người dân Miến không?
[TBN] Tôi không thấy có nổ lực nào về phía chính quyền nhằm ngăn cản sự tiếp xúc của du khách đối với dân chúng. Tuy nhiên sự tiếp xúc bị giới hạn bởi ngôn ngữ, th́ giờ và cơ hội tiếp xúc. Đoàn du lịch thường di chuyển chung trên xe có nhân viên của hăng du lịch hướng dẫn. Tại các địa điểm thăm viếng, du khách thường bận rộn nh́n ngắm, chụp h́nh hơn là hỏi han về t́nh h́nh đất nước Miến Điện. Trong các khách sạn th́ nhân viên khách sạn lo việc phục vụ hơn là chuyện tṛ thân mật. Người hướng dẫn thuộc hăng du lịch không tuyên truyền chính sách của chính phủ, nhưng cũng tránh phê phán chính quyền. Tôi nhớ một lần trong lúc đang di chuyển, người tour leader (anh Trần Chính) hỏi người hướng dẫn rằng cá nhân anh có được quyền tự do phát biểu hay không, và anh hóm hỉnh trả lời: “Có chứ, nhưng chỉ trên xe này thôi. Xuống xe là tôi không có quyền nói nữa”.

10/ Chỉ riêng trong lĩnh vực du-lịch (khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hóa - lịch sử, khách sạn, việc ăn uống, phương tiện di chuyển, thủ tục hành chính, cung cách phục vụ...), ông sẽ có nhận định thế nào nếu so sánh Miến Điện (Myanmar) với các nước láng giềng của nó như Ấn Độ, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam?
[TBN] Sau khi thăm Miến Điện tôi có ba nhận xét. Thứ nhất, việc tổ chức của hăng du lịch Miến Điện c̣n luộm thuộm v́ đất nước này mới mở cửa cho du khách. Thứ hai là phong cảnh vẫn c̣n giữ được nét thiên nhiên hoang dă. Và thứ ba là bất cứ nơi nào có đất có người là có chùa có tháp. Người ta thường nói Việt Nam là nước Phật giáo, tại cố đô Huế có rất nhiều chùa chiền. Nhưng đến thăm Miến Điện rồi mới thấy chùa chiến tại Huế và miền Bắc Việt Nam không nghĩa lư ǵ. Có thể nói chùa ở Việt Nam là những landmark, c̣n chùa tháp ở Miến Điện là tất cả, chúng trở thành một phần của khung cảnh thiên nhiên. Đứng ở bất cứ một cao điểm nào trên đất nước Miến Điện người ta cũng nh́n thấy bát ngát chùa và tháp. Cứ thử tưởng tượng tất cả mồ hôi và bắp thịt đă đổ những khối lượng vôi gạch khổng lồ vào những công tŕnh đó, chúng ta có thể đoán rằng người dân Miến không c̣n th́ giờ để suy nghĩ điều ǵ cao siêu hơn là việc khiêng và vác. Ngôi chùa Shwedagon lớn nhất tại thủ đô Yangon chiếm hẳn một quả núi, cao 100 mét và rộng 46 mẫu. Bước chân vào, du khách không có cảm tưởng đi vào một ngôi chùa mà là lạc vào cả một thành phố của chùa tháp. Hàng trăm mái chùa và hàng vạn tượng Phật lớn nhỏ dát vàng, giữa hàng hà lối đi ngang dọc, chằng chịt giống như một mê hồn trận.
Nói về quy mô của những công tŕnh xây cất, Miến Điện nếu có thua th́ chắc chỉ thua Cam Bốt về sự vĩ đại của ngôi đền Angkor Wat và quần thể kiến trúc Angkor Thom gần thành phố Siem Reap. Mặc dầu vậy, Cam Bốt tuy mang danh là “xứ chùa tháp” so với Việt Nam, nhưng đứng bên cạnh Miến Điện th́ đến lượt người Cam Bốt phải gọi Miến Điện là xứ chùa tháp. Số lượng chùa chiền tại Miến Điện có thể nói gấp trăm lần số chùa chiền tại Cam Bốt.
Trong quan niệm riêng của người Việt Nam sống ở nước ngoài, đi du lịch đến các nước như Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan hay Cam Bốt và đi về Việt Nam thăm viếng có ư nghĩa khác nhau rơ ràng. Về Việt Nam là để thăm nhà, thăm quê hương (trừ một số “Việt kiều” về để xác định ḿnh là người nước ngoài và để nh́n đâu cũng thấy người Việt Nam sống trong nước là thấp kém, tham lam và lạc hậu). Du lịch Ấn Độ là để t́m hiểu phương Đông huyền bí, thăm viếng Thái Lan để thấy cái văn minh vật chất của một nước hậu tiến vừa mới vươn lên hàng các nước đang phát triển; Viếng thăm Trung Quốc là để t́m lại một ít nguồn gốc của văn hóa Việt Nam và t́m hiểu một nước trong khối xă-hội-chủ-nghĩa đang biến cải như thế nào trước áp lực toàn cầu. C̣n du lịch Miến Điện và Cam Bốt có thể chỉ là để t́m về với dĩ văng huy hoàng của các quốc gia đó. Đi qua những làng mạc xác xơ, chung đụng với những người dân nước da ngăm đen và rắn chắc, nh́n ngắm những thiếu nữ nhỏ thó yêu kiều và hiền lành trong những bộ sa-rông đầy màu sắc, người khách du lịch có thể mường tượng được cái thời huy hoàng của những thế kỷ xa xưa trong những đống đá, vôi và gạch của những đền đài, chùa tháp và miếu thất sừng sững vô tri...
Du lịch là một dịp “trông người mà nghĩ đến ta”. Nh́n lại Việt Nam xem chúng ta có ǵ. Trong hiện tại th́ người dân Việt Nam không đến nỗi thiếu thốn (về kinh tế) như dân Miến Điện và Cam Bốt, nhưng Việt Nam chúng ta không có ǵ để tự hào lắm so với những công tŕnh kiến trúc đồ sộ mà các thế hệ trước đây ở Miến Điện và Cam bốt c̣n để lại, dù phần nào đă bị thời gian tàn phá. Những thành tích đánh quân Nguyên, đuổi quân Minh, đánh thắng hai đế quốc phương Tây là Pháp và Hoa Kỳ của Việt Nam dù rằng được ghi vào quân sử thế giới, nhưng chúng đổi được ǵ cho chúng ta? Sau 30 năm ḥa b́nh cơm chỉ vừa đủ no, áo chỉ vừa đủ ấm, nhưng Việt Nam ngày càng mất đi sự kính nể của cộng đồng quốc tế trong một thế giới đang tiến những bước phi mă và càng lúc càng đẩy lùi chúng ta lại phía sau. Có lẽ đă đến lúc chúng ta nên thôi ca ngợi thành tích “4000 năm văn hiến”, nên ngừng tự hào v́ sự thành công của con cháu chúng ta tại hải ngoại để ngoảnh nh́n lại chính chúng ta. V́ với vốn liếng văn hóa đó, với khả năng đó mà không làm nẩy mầm nổi một hy vọng cho ngày mai th́ đó that là một bất hạnh cho dân tộc Việt Nam.
Ai có trách nhiệm? Nếu không phải là những người đang lănh đạo đất nước!

– Xin cảm ơn ông đă cho phép thực hiện bài phỏng vấn ngắn này.

Ảnh bên trái [từ trên xuống dưới]: 1/Trần B́nh Nam, người trả lời bài phỏng vấn này (ảnh chụp tại Yangon trong chuyến du-lịch Miến Điện & Angkor, tháng 02, 2005); 2/Tướng Than Shwe, người đứng đầu chính quyền cực hữu tại Miến Điện hiện nay; 3/Bà Aung San Suu Kyi, lănh tụ tranh đấu cho dân chủ tại Miến Điện; 4/Pagan, thánh địa Phật-giáo, một địa điểm hành hương và du-lịch nổi tiếng của Miến Điện.

 

 
 

DỰ KIẾN CHO MÙA HÈ NĂM 2006:
BUỔI THUYẾT TR̀NH VỀ ĐỀ TÀI “ĐỒ SỨ MEN LAM CỦA HUẾ”

Trong tháng 6, 2006, Voyages Saigon dự kiến sẽ tổ chức một buổi thuyết tŕnh về đề tài “Đồ sứ Men Lam của Huế – Les Bleus de Hue”. Nội dung của buổi thuyết tŕnh này sẽ giới thiệu: 1/ Đại cương lịch sử h́nh thành và phát triển của đồ gốm sứ Việt Nam; 2/ Bối cảnh chính trị và t́nh h́nh bang giao Việt Nam - Trung Quốc qua hai thời kỳ: cuối đời Lê - Trịnh (thế kỷ 18) và nhà Nguyễn (thế kỷ 19) với sự ra đời và phát triển của đồ sứ Men Lam; 3/ So sánh sứ Men Lam của Huế với sứ Men Lam của Trung Quốc dưới hai khía cạnh: kỹ thuật chế tác và mỹ thuật tạo h́nh; 4/ Đồ sứ Men Lam của Huế dưới mắt các nhà sưu tập. Người thuyết tŕnh: Trần Chính (Voyages Saigon). Địa điểm của buổi thuyết tŕnh: Pḥng Sinh Hoạt nhật báo Người Việt.
Đây sẽ là buổi nói chuyện hứa hẹn với thính giả nhiều khám phá mới thú vị về khía cạnh văn hóa của đồ gốm sứ Việt Nam. Xin mời đón đọc bản tường tŕnh trên trang Club Espresso này.
CLUB EsPRESSO.

Ảnh bên trái: long-mă, họa tiết trang trí trên một đĩa sứ Men Lam “Khánh Xuân Thị Tả” đời Chúa Trịnh Sâm (1767-1782), thuộc bộ sưu tập của N.Q. – Ảnh của nhà sưu tập.

 

club espresso
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved