Voyages Saigon, Inc.

           club espresso

 

CLUB EsPRESSO

 

LỖ TẤN
QUÊ CŨ

 

Truyện ngắn dưới đây Lỗ Tấn đă sáng tác vào năm 1921, với tựa đề trong nguyên bản là “Cố Hương”; Lần đầu tiên đăng trên tạp chí “Tân Thanh Niên” tại Bắc Kinh vào tháng 5 cùng năm; Năm 1922 được gom chung với 13 truyện ngắn khác và xuất bản thành tập dưới tựa đề “Gào Thét” (1918-1922).
Bản dịch của Mai Kim Ngọc.

[Phần chú thích của CLUB EsPRESSO]


QUÊ CŨ

Không quản trời đông rét mướt, mà cũng không ngại hai ngàn dặm lộ tŕnh, tôi lên đường về thăm quê cũ. Thấm thoát tôi đă xa nhà gần hai chục năm. Thời tiết vào độ tàn đông. Khi gần tới làng th́ trời chuyển mưa, mây đen vần vũ, và gió sông heo hút thổi vào khoang thuyền. Qua tấm mành trúc, tôi nh́n ra quang cảnh ven sông chỉ thấy tiêu điều, với thôn xóm xa gần xác sơ dưới bầu trời ủ rũ.
Cảnh quê làm tôi chạnh ḷng. Phải chăng đây là chốn cố hương tôi vẫn hằng mơ ước suốt hai chục năm qua. Quê cũ trong kư ức sao đẹp hơn thế này nhiều lắm. Nhưng nếu hỏi tại sao ngày xưa đẹp mà bây giờ lại xấu, th́ tôi chịu không kiếm ra lư do ǵ cụ thể. Rồi tôi lại nghĩ, cố hương trước sau vẫn vậy, không đẹp hơn mà cũng không xấu hơn. Chỉ có bản thân là thay đổi. Trên đầu đă hai thứ tóc, tôi cũng không c̣n bao nhiêu ảo tưởng.
Hôm nay tôi về làng mục đích là để giă từ. Ngôi nhà lớn, nơi chi tộc tôi mấy đời cư ngụ, nay đă bán, và cuối năm chủ mới sẽ tới tiếp thu. Tôi phải vội về, phần để từ giă ngôi nhà cổ kính, phần để đón gia đ́nh tôi tới nơi cư ngụ mới.

***
Vừa đến ngơ, tôi tê tái thấy mấy cọng cỏ uá trên mái nhà đ́u hiu trước gió. Bán đi là phải, tôi thầm nhủ. Nhiều chi trong họ tôi đă dọn đi xa, hàng xóm láng giềng vắng tanh. Tôi vào đến sân đă thấy mẹ tôi đả đứng tựa cửa đợi từ bao giờ. Thằng Hoàng cháu tôi mới tám tuổi, thấy bác về cũng chạy ra nép bên bà.
Mẹ tôi vui mừng gặp lại con, nhưng bà cũng không giấu được nét buồn. Bà nhủ tôi hăy nghỉ ngơi, uống chén trà tẩy trần, chuyện dọn nhà thủng thẳng bàn sau. C̣n thằng Hoàng lần đầu gặp bác, c̣n lạ nên chỉ bẽn lẽn đứng xa mà nh́n.
Nhưng rồi hai mẹ con tôi cũng phải bàn tính chuyện dọn nhà. Tôi thưa với mẹ rằng tôi đă thuê sẵn căn phố và đă sắm sửa được ít nhiều bàn ghế. Đồ đạc cũ chắc phải bán đi lấy tiền chi dụng khi về nhà mới. Mẹ tôi cũng đồng ư. Bà nói những vật dụng hầu hết đă có người mua, chỉ đợi trao tiền là xong. Bà nói:
“Nghỉ ngơi vài bữa, rồi con đi chào bà con trước khi lên đường.”
“Dạ.”
“Con à, con có c̣n nhớ anh Nhuận Thổ không? Lần nào lên chơi, anh ấy cũng hỏi thăm con. Hôm rồi, mẹ có cho người nhắn anh ấy là con sắp về. Chắc nay mai là anh ấy lên thăm con thôi.”
Nhắc đến Nhuận Thổ, một h́nh ảnh đặc biệt hiện về trong trí tôi. Khung cảnh là một đêm trăng, mấy chục năm về trước. Dưới trăng, một cánh đồng bát ngát chạy dài ven biển, trồng toàn dưa hấu, quả xanh như ngọc bích. Một em bé trai cỡ mười tuổi, cổ đeo kiềng bạc, tay cầm đinh ba đang ráng hết sức b́nh sinh đâm theo một con tra [1]. Con vật lanh lẹ tránh đ̣n, rồi lao thẳng tới và luồn giữa hai chân em mà trốn thoát.
Em bé ấy chính là Nhuận Thổ. Lần gặp gỡ ấy khoảng ba mươi năm về trước. Thủa ấy cha tôi c̣n sống, gia đ́nh c̣n sung túc, và tôi rất được nuông chiều. Năm đó đến lượt gia đ́nh tôi lo việc giỗ tổ. V́ ba mươi năm mới có một lần, nên việc cúng giỗ này linh đ́nh lắm. Tháng giêng, lễ vật được dâng lên bàn thờ tiền nhân. Bát đĩa là toàn đồ sứ hảo hạng, nên cần có người để mắt, tránh chuyện mất mát trong cảnh ra vào hỗn độn của ngày giỗ lớn. Gia đ́nh tôi chỉ có một người làm, và anh ta xin cha tôi cho mang con trai là Nhuận Thổ lên giúp một tay.
Tôi rất mừng khi cha tôi đồng ư. Tôi nghe nói Nhuận Thổ cũng trạc tuổi tôi. Hắn sinh năm nhuận. Bố nó coi tử vi thấy trong ngũ hành, số nó chỉ thiếu có thổ nên đặt tên cho nó là Nhuận Thổ [2]. Nghe nói nó có tài bẫy chim, và đă từng bắt được chim chóc đủ loại.
Tôi nôn nóng cho chóng đến Tết, v́ Tết sẽ mang Nhuận Thổ tới. Sau cùng, tối giao thừa, mẹ tôi gọi tôi ra bảo Nhuận Thổ đă đến rồi. Tôi vội vă đi t́m gặp nó. Nó đứng trong bếp một ḿnh. Mặt nó tṛn trĩnh và hửng đỏ, đầu đội mũ nỉ điều, cổ đeo kiềng bạc lóng lánh. Nhuận thổ rất được bố chiều. Sợ tà ma quấy phá, nó được khoán cho chùa, và chiếc kiềng là bùa hộ mệnh của nó. Nó nhút nhát và chỉ thoải mái với tôi là bạn cùng tuổi. Lúc bếp vắng người, nó bạo dạn bắt chuyện với tôi và chẳng mấy chốc chúng tôi trở thành bạn thân. Tôi không nhớ nó nói những ǵ, chỉ nhớ nó khoe rằng từ khi lên tỉnh, nó đă thấy được bao nhiêu chuyện lạ.
Ngày hôm sau, tôi bảo nó đặt bẫy chim. “Chưa được đâu. Phải đợi tuyết xuống đă. Ởø quê, sau trận tuyết, tớ hay ra sân quét một mảng cho sạch, rắc mấy hột thóc rồi lấy cái thúng chống que lên. Rồi ra xa núp. Khi chim xuống ăn, tớ kéo sợi giây buộc que, thúng xụp xuống là bắt được chim. Đủ thứ chim. Gà rừng này, trĩ này, cu gáy này...”. Nghe nó nói, tôi nóng ḷng mong tuyết rơi.
“Bây giờ lại lạnh quá,” Nhuận Thổ than khi hôm tuyết xuống. “Nhưng mà đằng ấy phải về làng chơi một chuyến vào dịp hè cho biết. Ban ngày tớ đưa đằng ấy ra biển nhặt vỏ ốc ngũ sắc. Đẹp lắm, cái th́ đỏ tươi, cái lại xanh lục. Hôm nào may, lại kiếm được ốc quư như ốc ma, ốc tay Phật. C̣n buổi tối, khi nào tớ đi canh dưa, đằng ấy đi theo cho biết.”
“Sao lại phải canh? Sợ người ta lấy trộm sao?”
“Không phải. Vùng tớ, khách đi đường khát mước có hái một quả ăn, như vậy không phải là trộm. Canh là canh mấy con lợn rừng, con chồn, và nhất là con tra. Đêm trăng, khi nghe tiếng nhai dưa rau ráu, là nó đấy. Đằng ấy lấy đinh ba rón rén bước lại... Phải đi thật nhẹ, thật rón rén, thật khẽ nhá... nó khôn lắm...”
Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết h́nh thù con tra nó ra làm sao. Tôi áng chừng nó cỡ con chó nhỏ, mà chắc là nó hung dữ lắm...
“Con tra nó có cắn người ta không?”
“Đằng ấy sợ ǵ, đằng ấy có đinh ba cơ mà. Thấy nó là đằng ấy lao đinh ba liền. Tra nó khôn lắm, hễ động là nó phóng thẳng tới. Đằng ấy mà luống cuống, là nó luồn ngay giữa hai chân mà trốn mất. Lông nó trơn như mỡ.”
Trước kia tôi đâu có ngờ trên đời lại nhiều chuyện lạ kỳ như vậy. Ở miền duyên hải, vỏ ốc lại đủ mầu sắc như cầu vồng. Ai ngờ quả dưa hấu lăn lóc ở góc chợ rau mà gốc gác lại dính lứu đến những chuyện phiêu lưu mạo hiểm như vậy. Nó lại kể:
“Vùng tớ, khi nước xuống, cá lóc nhẩy lung tung ngoài băi biển. Mỗi con lại có chân như ếch...”
Đầu óc Nhuận Thổ là một kho tàng đầy những chuyện ly kỳ. Bọn tôi tỉnh thành thật chẳng biết ǵ. Một đằng th́ sống ngay tại bờ biển bao la, với bao nhiêu chuyện lạ. Một đằng th́ tầm mắt chưa vượt quá khoảng trời bao bọc bởi bốn bức tường xây quanh sân nhà.
Sau Tết một tháng, Nhuận Thổ phải về làng. Tôi khóc chạy trốn vào trong bếp với nó, cho đến khi bố nó đến dẫn nó đi. Về sau nó có gửi biếu tôi một gói vỏ ốc với mấy cái lông chim thật đẹp. Tôi có một đôi lần gửi quà biếu lại, nhưng chúng tôi không gặp lại nhau nữa.
Nay nghe mẹ tôi nhắc lại bạn cũ, kỷ niệm như bừng sống lại, và tôi hiểu v́ sao ḿnh vẫn giữ một h́nh ảnh đẹp của quê nhà. Tôi sốt sắng hỏi tin bạn:
“Thật sao, mẹ. Thế anh ấy có khá không?”
“Nhuận Thổ ấy à? Không khá lắm...”
Mẹ tôi vừa nói vừa nh́n ra cửa. Bà nói sang chuyện khác:
“Mấy người này lại lộn trở lại. Cứ lấy cớ là muốn mua đồ gỗ, nhưng xểnh ra là táy máy nhặt nhạnh. Mẹ phải ra canh mới được...”
Mẹ tôi đứng dậy ra ngoài sân. Tôi gọi thằng Hoàng vào nhà trong nói chuyện. Tôi hỏi nó đă biết đọc chưa, và nó có thích dọn nhà đi tỉnh khác ở không.
“Ḿnh sẽ đi xe lửa, phải không bác?”
“Ừ, ḿnh sẽ đi xe lửa.”
“Thế có đi thuyền không bác?”
“Có. Ḿnh đi thuyền trước rồi đi xe lửa sau.”

***
Bỗng có tiếng đàn bà cười the thé:
“Ối chao ơi. Sao mà lớn thế này. Lại để râu nữa.”
Tôi vội ngẩng lên. Một bà độ khoảng năm mươi đang đứng sừng sững trước mặt. Bà ta lưỡng quyền cao, môi mỏng dính, hai tay chống nạnh, và mặc quần chứ không mặc váy như phụ nữ trong làng. Bà ta đứng dạng chân, toàn thân giống như cái compas trong hộp dụng cụ h́nh học.
Tôi c̣n ngỡ ngàng th́ mẹ tôi đă bước vào. Bà đỡ lời con:
“Anh ấy xa nhà đă lâu, nếu có quên, cô cũng bỏ qua cho.”
Rồi quay lại tôi, bà nói tiếp:
“Chắc con c̣n nhớ, đây là cô Dương, nhà bên kia đường.”
Bây giờ th́ tôi nhớ ra. Khi tôi c̣n bé, có một cô Dương bán đậu phụ trong tiệm trước nhà. Ai cũng gọi cô là Giai Nhân Đậu Phụ. Ngày xưa, cô hay đánh phấn. G̣ má không cao và môi không mỏng như bây giờ. Vả lại tôi chỉ nhớ cô suốt ngày ngồi bán hàng, nên đă bỡ ngỡ khi thấy cô trong thế đứng chống nạnh như cái compas. Nghe nói hồi ấy sắc đẹp của cô đă thu hút khách hàng cho cửa tiệm tầu hũ. Có lẽ hồi ấy tôi c̣n bé nên không bị nhan sắc cô mê hoặc, nên mới quên bẵng đi.
Nhưng Giai Nhân Đậu Phụ rất phật ư. Tôi không biết cô là ai, có khác nào người Pháp không biết tới ông Nă-Phá-Luân, hay người Mỹ không biết tới ông Hoa-Thịnh-Đốn. Chua cay, cô trách:
“Cậu quên tôi rồi phải không? Phải rồi, tôi có ǵ đâu mà để cho cậu nhớ...”
Tôi đứng dậy lúng túng:
“Không dám, tôi...”
“Nếu cậu c̣n nhớ th́ nghe tôi đây. Cậu Tấn, bây giờ cậu giàu có rồi, đồ đạc này cồng kềnh thô kệch, không có lư ǵ cậu c̣n cần đến nữa. Tốt nhất là cho tôi quách đi cho xong. Dân giả chúng tôi dùng th́ cũng c̣n tốt chán...”
“Tôi mà giàu có ǵ. Vả lại không bán đồ cũ th́ lấy ǵ mà mua đồ mới...”
“Úi chao ôi. Làm quan lớn rồi mà vẫn chưa cho là ḿnh giàu sao? Bây giờ chắc đến ba vợ hầu rồi, ra đường đi kiệu tám người khiêng. Vậy mà vẫn chưa cho là giàu hả? Ha! Cậu che mắt tôi sao được.”
Biết có nói cũng không lại, tôi đành lặng yên.
“Úi chao ôi, càng giàu càng kẹo, càng kẹo càng giàu...”
Nói xong cô vùng vằng bỏ đi. Khi ra đến cửa, tiện tay bà chớp luôn đôi găng của mẹ tôi nhét vội vào túi. Tiếp đến là bà con hàng xóm đến thăm. Khi nào rảnh tay tiếp khách, tôi lại gói ghém ít hành lư, và như vậy bốn ngày trôi qua.

***
Một buổi trưa khá lạnh, tôi đang ngồi uống trà th́ có người đến thăm. Mới nh́n, tôi vội nhỏm dậy chạy ra đón khách. Khách chính là Nhuận Thổ. Tuy mới thoáng nh́n, tôi đă nhận ra anh. Nhưng hôm nay anh không c̣n là Nhuận Thổ năm xưa. Anh cao gấp hai trước. Khuôn mặt xưa kia tṛn trĩnh, bây giờ đă hốc hác, đầy nếp nhăn. Anh trông giống cha anh ngày trước, mí mắt sưng đỏ, kết quả của gió biển năm này qua năm khác. Anh đội chiếc mũ nỉ cũ kỹ. Co ro trong chiếc áo bông mỏng đă sờn chỉ, and lạnh run cầm cập từ đầu đến chân. Anh mang theo một gói giấy và cái điếu cày dài bằng tre. Tay anh không c̣n bụ bẫm, mà thô lỗ vụng về, da dẻ sần sùi như vỏ cây. Tuy vô cùng mừng rỡ, nhưng tôi vẫn không tránh khỏi ngượng ngùng. Tôi chỉ thốt ra được mấy tiếng:
“Ô! Nhuận Thổ đấy ư.”
Biết bao nhiêu điều tôi muốn nói với anh. Nào là gà rừng, nào là cá biết nhảy, nào là ốc ngũ sắc..., và nhất là con tra. Nhưng lưỡi tôi líu lại, không thốt ra lời. Nhuận Thổ cũng đứng sững, buồn buồn tủi tủi, môi anh mấp máy nhưng không thành tiếng. Sau cùng, cung kính đến khúm núm, anh nói:
“Bẩm cậu!”
Tôi rùng ḿnh ghi nhận cái bức tường đá đă dựng lên phân cách chúng tôi tự bao giờ. Anh ngoái đầu ra sau gọi con:
“Thủy Chương, con ra lạy ông chủ đi.”
Rồi anh đẩy con ra phía trước. Thằng bé từ lúc năy đă nép sau bố, bẽn lẽn bước ra. Đúng là h́nh ảnh Nhuận Thổ hai mươi năm về trước, chỉ hơi khác là nó gầy hơn xanh hơn, và không đeo kiềng bạc.
“Đây là cháu thứ năm. Cháu chưa thấy khách lạ bao giờ, nên nhút nhát lắm.”
Thấy tiếng chuyện tṛ, mẹ tôi và thằng Hoàng từ trên gác bước xuống.
“Thưa bà, chúng con mới được tin cách đây ít bữa. Biết cậu Tấn về chơi, chúng con mừng lắm...”
Mẹ tôi vui vẻ nói:
“Sao bây giờ anh Nhuận Thổ lại kiểu cách thế. Không phải ngày xưa hai anh em vẫn chơi đùa với nhau sao?”
“Dạ con không dám. Bà phúc hậu thương người quá. Hồi trước trẻ dại, thật là con chẳng biết đâu là đâu...”
Vừa nói Nhuận Thổ vừa đẩy thằng Chương ra trước, bắt chào mẹ tôi, nhưng thằng bé vẫn sợ hăi co rúm lại ôm chân bố. Mẹ tôi bảo:
“À, ra đây là thằng Chương. Cháu thứ năm phải không? Toàn người lạ cả, hèn ǵ cháu chẳng thẹn. Hoàng đâu, dẫn em ra ngoài chơi.”
Được phép, Thủy Chương hớn hở bước theo bạn mới. Mẹ tôi mời Nhuận Thổ ngồi. Anh ngần ngại ngồi xuống mép ghế. Dựa chiếc điếu cày vào chân bàn, anh rảnh tay đưa gói giấy cho tôi:
“Mùa đông chẳng có thức ǵ quí, chỉ có nắm đỗ nhà phơi lấy, mạn phép đem lên biếu cậu.”
Khi hỏi tới chuyện làm ăn, anh lắc đầu thở dài:
“Bẩm khó khăn lắm. Cháu thứ sáu đă giúp được việc vặt rồi. Vậy mà cũng không đủ ăn. Mà cũng chẳng có an ninh ǵ... Người nào cũng ṿi tiền ṿi bạc, thật chẳng c̣n luật pháp ǵ cả... Mùa màng lại kém hụt. Trồng được thứ ǵ mang ra chợ, lại hết thuế nọ đến thuế kia. Mà rau cỏ không đem bán, để nhà cũng hỏng.”
Vừa nói chuyện, anh vừa lắc đầu ngao ngán. Mặt anh nhăn nhúm như trái trám khô. Vậy mà các vết nhăn vẫn không nhúc nhích khi anh nói chuyện, tựa hồ những khổ ải trên khuôn mặt anh đă tạc vào đá. Anh uất ức, nhưng tâm hồn thô sơ, anh không diễn tả nổi thành lời. Lát sau, với chiếc điếu cày, anh yên lặng hút thuốc.
Rồi anh cho mẹ tôi biết anh không ở lâu được, và hôm sau anh sẽ phải về v́ công việc dưới quê bừa bộn lắm. Biết anh đi đường chưa dùng bữa, mẹ tôi dục anh xuống bếp rang cơm ăn. Khi anh ra khỏi pḥng, cả mẹ tôi lẫn tôi đều lắc đầu ái ngại. Con đông, đói kém, sưu thuế, lính tráng, trộm cướp, thư lại, địa chủ, tất cả đă ḅn rút tận xương tủy và vắt hết sinh lực anh. Mẹ tôi cho anh tùy tiện lựa chọn trong đám vật dụng phải để lại, muốn lấy ǵ th́ lấy.
Chiều hôm đó, anh xin mấy món đồ, gồm hai cái bàn dài, bốn cái ghế, cái đỉnh đốt trầm, mấy cây nến thờ, và cái cân... Anh cũng xin đống tro bếp để bón ruộng, tính khi chúng tôi đi rồi sẽ đem thuyền lên hốt. Đêm đó chúng tôi ngồi chuyện văn rồi đi ngủ. Sáng hôm sau, anh từ giă, và dẫn thằng Thủy Chương về làng.
Độ chín ngày sau, anh trở lại. Lần này Thủy Chương không được theo bố lên tỉnh, và anh chỉ đem theo đứa con gái lên năm để coi thuyền. Khách khứa lui tới suốt ngày, có người đến tiễn đưa, có người đến lấy đồ, có người một công đôi việc. Chiều tối khi chúng tôi lên thuyền, vật dụng trong nhà, dù lớn nhỏ, tốt xấu, c̣n dùng được hay đă găy nát đến đâu cũng biến sạch hết.

***
Rồi thuyền nhổ neo. Mấy rặng núi bên sông đổi thành mầu chàm đậm trong bóng chiều để dần dần mất hút đằng sau.
“Bác ơi, ḿnh có trở về nữa không?”
“Trở về ư? Chưa đi mà đă muốn về hả cháu?”
“Tại v́ thằng Thủy Chương nó rủ cháu về làng nó chơi...”
Thằng Hoàng vừa nói vừa mở to đôi mắt lo lắng. Thằng Hoàng nhắc đến Thủy Chương làm mẹ tôi và tôi nghĩ đến Nhuận Thổ. Bà kể từ hôm gia đ́nh sửa soạn hành lư, cô Dương Đậu Phụ ngày nào cũng qua nhà. Hôm trước lục lọi trong đống tro bếp, cô lôi ra một chồng đĩa bát. Cô cả quyết chính Nhuận Thổ là thủ phạm, với mưu toan khi trở lại hốt tro sẽ đem bát đĩa ăn cắp về nhà. Khám phá ra chuyện này, Giai Nhân Đậu Phụ lấy làm hănh diện lắm, tiện tay xách luôn cái lồng gà chạy biến về nhà. Mẹ tôi bảo chân nhỏ mà chạy nhanh như vậy, quả thật là giỏi.
Làng xưa bỏ lại sau thuyền, và sông núi cố hương biến dần vào xa xăm.
Nhưng tôi không tiếc nuối. Tôi đă mất mọi liên hệ với quê cũ, cố nhân cũng như cố sự. Tôi chỉ thấy quanh tôi những bức tường cao vời vợi, ngăn cách tôi với đồng bào tôi. Nhận định làm tôi xót xa.
Trong khoang, mẹ tôi và thằng Hoàng đang nằm dỗ giấc ngủ. Tôi ngả lưng, nằm nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền róc rách. Rồi tôi nghĩ dù giữa tôi và Nhuận Thổ có ngăn cách bao nhiêu, con cái chúng tôi vẫn c̣n chia sẻ những điểm tương đồng. Lúc năy, thằng Hoàng chẳng vừa nhắc đến thằng Chương đó sao?
Tôi hy vọng chúng sẽ gần gũi nhau hơn trong cuộc sống. Hơn nữa tôi mong đời chúng sẽ không dày ṿ dằn vặt như đời tôi, mà cũng không lam lũ nhọc nhằn như đời Nhuận Thổ. Tôi cũng mong chúng sẽ không giống những người tôi đă gặp, những người mà cả mục tiêu cuộc sống chỉ là những chuyện nhảm nhí không đâu.
Con cháu chúng tôi sẽ có một đời sống mới, một đời sống tốt đẹp, một đời sống mà thế hệ tôi chưa từng được hưởng.
Hy vọng tương lai bỗng làm tôi kinh sợ. Khi Nhuận Thổ xin cái đỉnh đốt trầm và mấy cây nến thờ, tôi đă tức cười là khổ thế mà anh c̣n bám víu lấy những công cụ của mê tín dị đoan. Vậy mà cái mà tôi gọi là Hy Vọng, chẳng qua cũng là một thứ dị đoan tôi đă tự tạo cho tôi. Chỉ có khác là điều Nhuận Thổ mơ ước là những nhu cầu vật chất gần gũi với tầm tay, c̣n cái dị đoan của tôi th́ xa xăm và trừu tượng.
Lúc tôi chợp chờn ngủ, một dải duyên hải hiện ra trước thuyền, và vừng trăng tṛn treo cao, lơ lửng trên ṿm trời trong sáng. Rồi tôi nghĩ những điều tôi hy vọng không hẳn là có, mà cũng không hẳn là không. Hy vọng có thể ví như đường xá trên mặt đất. Khởi thủy làm ǵ có đường xá. Nhưng chân người cùng chung một hướng, dẫm măi mà thành đường.

Tháng Giêng năm 1921.
LỖ TẤN

(Bản dịch của MAI KIM NGỌC)

Chú thích: [1] Theo bức thư cua Chương Y B́nh gửi cho người dịch truyện của Lỗ Tấn ra tiếng Nga th́ ông có hỏi tác giả về con “tra”, họ Lỗ trả lời rằng đó là một tên thú vật do ông tùy tiện đặt ra để chỉ một giống lợn rừng. [2] Theo cách tin về tướng số ở Trung Quốc th́ mệnh người có ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; Ai đủ cả ngũ hành là số tốt, người thiếu mất một hành là số xấu; Thiếu hành nào th́ lấy tên hành ấy mà đặt thành tên người, có thể “bổ cứu” cho vận mệnh, giải trừ cái xấu.
 

 
club espresso
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved