Voyages Saigon, Inc.

           club espresso

           cafe espresso

CLUB EsPRESSO

 

PHỎNG VẤN NGẮN NHÀ VĂN MAI KIM NGỌC VỀ LỖ TẤN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN MAI KIM NGỌC VỀ Lỗ TẤN

Lỗ Tấn (1881-1936) là người đă khai sinh ra nền văn học hiện đại Trung Quốc. Ông là gương mặt văn hóa lớn chẳng những của Trung Quốc mà c̣n cả của thế kỷ thứ 20. Ông đă đi tiên phong trong thể loại văn xuôi hiện đại ở Trung Quốc bằng cách kết hợp lối viết tiểu thuyết của phương Tây với thể văn xuôi cổ-điển của Trung Quốc, và đă t́m ra một ngôn ngữ mới gần gũi và thích hợp với mọi tầng lớp xă hội ở Trung Quốc, khiến cho văn chương của ông sau nhiều thập niên vẫn không lỗi thời. Văn của Lỗ Tấn “vừa buồn vừa vui, nhẹ nhàng mà châm biếm”, như chính ông b́nh phẩm văn của Ngô Kính Tử (1701-1754), một tiểu thuyết gia vào đầu đời Măn Thanh. Là ông vua của tản văn và tạp văn, Lỗ Tấn đă trở thành mẫu mực trong văn học hiện đại ở Trung Quốc. Ông đă không để lại cho hậu thế những thiên tiểu thuyết diễm lệ như “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần, hay những bộ tiểu thuyết - sử thi đồ sộ như “Chiến tranh và Ḥa b́nh” của Leon Tolstoy, cũng không để lại hàng ngh́n thi phẩm trác tuyệt mang đầy chất tự cảm vượt thời gian, nhưng chỗ đứng của ông trong văn học Trung Quốc nói riêng và trong văn học Thế giới nói chung vẫn là một chỗ đứng duy nhất với một địa vị đặc biệt sang trọng. Quách Mạt Nhược (1892-1978) quả đă không cường điệu khi nói về Lỗ Tấn rằng: “trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn”.
Nhưng văn tài không chỉ dừng lại ở tác phẩm. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Lỗ Tấn, “A Q chính truyện” (1921), được xem như là tuyên ngôn chính trị - xă hội của ông. Suy nghĩ và cách diễn đạt của ông đôi khi lăng mạn, nhưng hi vọng và ḷng tin của ông vào cái tốt, cái thiện vốn rất thực tế. Lỗ Tấn cổ xúy cho một cuộc cải cách và duy tân triệt để, ông đả kích tinh thần thủ cựu và bài bác những lề thói hủ lậu ở nước Trung Hoa nửa phong kiến nửa thuộc địa vào đầu thế kỷ thứ 20, đồng thời ông vẫn thừa nhận và coi trọng sức mạnh của những giá trị truyền thống (“Đă gọi là hi vọng th́ không thể nói đâu là thực đâu là hư; Cũng giống như những con đường trên mặt đất; Kỳ thực trên mặt đất vốn làm ǵ có đường, do người ta cứ đi măi mà thành đường” – Cố Hương, 1921). Cái vĩ đại trong văn chương của Lỗ Tấn đem đến cho ông sự kính trọng và thán phục, bên cạnh đó những nghịch lư trong cuộc đời hoạt động của ông khiến người ta cứ c̣n tranh luận măi. Một phần bởi v́ ông đă sống và sử dụng ng̣i bút của ḿnh giữa một thời kỳ đầy biến động trong lịch sử hiện đại của nước Tàu cho nên tên tuổi của ông đă bị khai thác về chính trị và gây ra nhiều ngộ nhận, giống như trường hợp của nhà thơ S. Essenin ở nước Nga.
Sau khi chấm dứt chuyến du-lịch Trung Quốc “Con đường Tơ lụa” vào đầu mùa hè năm nay (2004), chúng tôi có thêm vài ngày extension tour đi thăm vùng phía nam sông Dương Tử. Ngày 09 tháng 6, tại Thượng Hải, chúng tôi đă đến thăm căn nhà nhỏ (#9 “Continental Terrace”, Shang Ying Lu) nằm trong khu Tô-giới Nhật nơi văn hào Lỗ Tấn đă sống những năm cuối cùng của ông. Đây là điều lư thú đối với nhiều người trong đoàn v́ hầu hết mọi người đều đă đọc Lỗ Tấn nhưng chỉ biết (và yêu) ông qua các tác phẩm văn học, nay được đến thăm nơi họ Lỗ đă từng sống tại Thượng Hải, nh́n thấy từ giường ngủ, kệ thuốc, tủ đựng sách cho đến chiếc bàn làm việc của ông, t́nh cảm và sự kính trọng mà đám hậu sinh chúng tôi dành cho ông bỗng trở nên hiện thực và gần gũi hơn.
Trước và sau khi thăm viếng căn nhà của Lỗ Tấn, tôi và nhà văn Mai Kim Ngọc [đọc truyện và khảo luận trong SALADE EsPRESSO] đă có dịp trao đổi với nhau khá nhiều về Lỗ Tấn. Trên đường đi thăm Ô Trấn trong tỉnh Triết Giang ngày hôm sau, theo đề nghị của tôi, Mai Kim Ngọc đă dành cho cả đoàn một bài thuyết tŕnh rất hấp dẫn về cuộc đời và văn nghiệp của Lỗ Tấn. Là nhà văn và nhà phê b́nh văn học có uy tín, đồng thời là người đă dịch một số truyện của Lỗ Tấn sang tiếng Việt tại Hoa Kỳ, Mai Kim Ngọc, bằng cách lược lại cuộc đời và những hoạt động của họ Lỗ trên nhiều lĩnh vực, đồng thời (theo đề nghị của tôi) so sánh Lỗ Tấn của Trung Quốc với Nam Cao (1917-1951), một tên tuổi lỗi lạc trong văn học hiện đại của Việt Nam chúng ta, đă đưa ra một số nhận xét rất riêng, rất sắc bén và những đánh giá mang tính phê phán về hai khía cạnh: văn chương và văn tài của Lỗ Tấn.
Sau chuyến du-lịch thăm vùng Giang Nam ấy, tôi đă xin phép thực hiện một bài phỏng vấn ngắn với nhà văn Mai Kim Ngọc, như để đúc kết lại phần quan trọng và lư thú nhất trong bài thuyết tŕnh về Lỗ Tấn mà ông đă dành riêng cho đoàn chúng tôi.
Xin được hân hạnh giới thiệu trên trang CLUB EsPRESSO nội dung của bài phỏng vấn này.
Trần Chính.
(California, Dec 31, 2004)

[Kèm với bài phỏng vấn, chúng tôi giới thiệu hai trước tác của Lỗ Tấn: truyện ngắn Cố Hương”, bản dịch của Mai Kim Ngọc, và Tựa tự viết lấy”, bản dịch của Trương Chính]
CLUB EsPRESSO.

1/ Ông là người đầu tiên dịch Lỗ Tấn ra tiếng Việt ở hải ngoại. Xin ông giới thiệu đại cương về tác phẩm mà ông biên dịch.
[MKN] Tôi dịch Lỗ Tấn cách đây gần hai chục năm, nhân chuyến đi Trung Quốc khi nước này mới mở cửa. Nhưng tôi không tin ḿnh là người đầu tiên dịch Lỗ Tấn ra tiếng Việt dù tại Mỹ hay tại hải ngoại nói chung. Ở Trung Quốc ngay từ thời Việt Nam thuộc Pháp chắc cũng không thiếu Việt Kiều thích và đă dịch Lỗ Tấn từ những thập niên đầu thế kỷ 20.
Tôi dịch một số truyện ngắn trong tuyển tập bằng Anh ngữ “Lu Xun, Selected Works” của Yang Xianyi and Gladys Wang mà tôi t́m được tại Thượng Hải nhân một chuyến đi hồi cuối thập niên 80. Bản dịch ấy do nhà Văn Khoa xuất bản thành một tuyển tập nhỏ. Vừa rồi anh Đỗ Đ́nh Tuân giám đốc nhà sách cho tôi mấy bản c̣n sót lại trong kho. Thời gian qua mau, vậy mà đă gần 20 năm rồi.

2/ Đây có phải là công tŕnh biên dịch duy nhất của ông không? Ông có gặp khó khăn hay trở ngại ǵ về kỹ thuật khi dịch truyện của Lỗ Tấn?
[MKN] Tôi bắt đầu sinh hoạt văn học bằng việc dịch Lỗ Tấn này. Về sau, tôi có dịch cuốn “La Symphonie Pastorale” của Andre Gide. Rồi tôi thỉnh thoảng dịch những truyện ngắn của Anton Chekhov, Yasunari Kawabata, Raymond Carver, vân vân...
Dịch Lỗ Tấn từ bản Anh ngữ, nhiêu khê nhất là các tên đất tên người họ phiên âm ra pin-yin, phải khó khăn mới tra ra những từ Hán-Việt tương ứng. Huang Hi Lou là Hoàng Hạc Lâu, Gui Lin là Quế Lâm, Jiang Nan là Giang Nam... Tên nguời cũng vậy, Lu Xun là Lỗ Tấn, Hou Yi là Hậu Nghệ, Cao Cao là Tào Tháo, vân vân...

3/ Cái ǵ khiến ông đă chọn truyện của Lỗ Tấn để dịch?
[MKN] Tôi tái khám phá ra Lỗ Tấn nhân dịp viếng thăm một ngôi chùa cổ ở Hàng Châu. Đó là lần đầu tiên tôi được nghe tích “thanh xà bạch xà” theo dị bản của Lỗ Tấn do cô hướng dẫn viên người Hoa kể. Tôi rất thích và t́m mua một tập truyện ngắn của ông.
Về sau tôi dịch Lỗ Tấn v́ muốn viết văn, nên cần ôn lại ngữ vựng Việt của ḿnh sau gần 20 năm xa quê hương. Sẵn sách Lỗ Tấn trong tay, tôi lấy ra dịch. Đó là sự việc hai thập niên trước.

4/ Ông thích truyện nào của Lỗ Tấn nhất?
[MKN] Tôi thích “Con Diều Giấy”“Cố Hương”. Phải nói ngay tôi không thích “A Quy Chính Truyện” mặc dầu tác phẩm này đă có ảnh hưởng lớn với những thế hệ trước và có thể c̣n hợp khẩu vị của nhiều người. Với họ, nói đến Lỗ Tấn là phải nói đến A Quy. Tôi thấy truyện chở ư hơi nhiều, xứng danh là mũi giáo nhọn của đấu tranh chính trị và xă hội. Nhưng giá trị đấu tranh cao không bắt buộc giá trị văn học cũng cao.

5/ Có người so sánh Lỗ Tấn của Trung Quốc với Nam Cao của Việt Nam và Maxime Gorki của Nga. Ông nghĩ sao?
[MKN] Tôi không đọc Gorki nhiều nên không có ư kiến về nhà văn Nga này. C̣n so sánh Nam Cao với Lỗ Tấn th́ có nhiều thú vị. Hai nhà văn giống nhau nhiều điểm. Nước Tàu tuy c̣n độc lập, nhưng cũng bị ngoại bang ngoại chủng lấn áp như nước ta. Cả hai tác giả cùng có xu hướng tả khuynh và xă hội, thích viết về người nghèo khó trong cảnh phong kiến thối nát. Nhân vật A Quy của Lỗ Tấn cũng như nhân vật Chí Phèo của Nam Cao đều là những kẻ cùng đinh bị ức hiếp đủ thứ, về sau cả hai cùng chết bất đắc kỳ. Nhưng hai tác giả lại có nhiều điểm khác nhau. Lỗ Tấn sống lâu hơn Nam Cao. Ông qua đời khi tuổi ngoại 50, v́ bệnh lao và v́ hút thuốc lá quá nhiều. Tuy không thọ, nhưng ít nhất ông cũng đă đủ th́ giờ tạo cho ḿnh một văn nghiệp lớn. C̣n Nam Cao th́ chết quá trẻ, h́nh như chỉ trên dưới 30 khi ông bị phi cơ Pháp bắn trên đường đi công tác kháng chiến.
Lỗ Tấn nổi danh hơn Nam Cao, v́ nhiều lư do. Thứ nhất, nhà văn Tàu là một người thông thạo ngoại ngữ, đă từng xuất dương, và có dịp giao du với văn nhân quốc tế, Nhật cũng như Tây phương. Trung Quốc được phương Tây quan tâm đến hơn Việt Nam, tiếng Hoa phổ thông hơn tiếng Việt, văn học Hoa được chú ư rất sớm. Lỗ Tấn có một học vấn trải rộng, từ ngành hỏa xa, hải quân, y khoa, cho đến sinh vật học... Ông không học môn nào quá năm dự bị, trừ y khoa được hai ba năm th́ bỏ. Tuy bề sâu kiến thức của ông không tới mức chuyên viên, nhưng bề rộng lại bao gồm nhiều lănh vực nên rất thuận lợi cho văn nghiệp. Nam Cao không có cái may mắn ấy. Ông ra trường có lẽ chỉ xong trung học đệ nhất cấp, và chết quá trẻ để có đủ th́ giờ tự học thêm.
Tuy nhiên, tài năng là tài năng. Và tài của Nam Cao là ở chỗ nhạy ứng với nhân tâm. Ông lại biết dựng nhân vật từ những người nông dân rất gần gũi với ông, và dựng cốt truyện từ cảnh đời ở làng quê mà ông thành thạo. Ông không phiêu lưu vào những cơi nhân tâm xa lạ. Nhờ vậy mà nhân vật của ông có da có thịt, có xấu có tốt, có chiều dày, không phải như những h́nh nộm cắt bằng b́a để tác giả sai khiến đi minh họa những sứ điệp xă hội này nọ...
Đọc “Chí Phèo”, ta thấy cái áp bức của cường hào ác bá, thấy cái khổ sở vô vọng của đám cùng đinh, cái cuộc sống gần như thú vật của nhân vật chính với đánh thuê chém mướn... Vậy mà được Thị Nở nấu cho bát cháo hành nóng hôm y bị cảm nặng, chút nhân phẩm le lói trong Chí Phèo bùng cháy lại, và ta thấy cái huyền diệu của t́nh yêu. Nam Cao xử lư t́nh yêu đẹp như xử lư tôn giáo với khả năng cải thiện tốt lành ngay trong cốt lơi, ngay cả khi không có nghi lễ kinh kệ. T́nh yêu ông tả dù trơ trụi, dù không chút nhan sắc của người nữ hay tài ba của người nam, dù trong cảnh dâu-bộc, và dù ngọng nghịu v́ cả đôi nam nữ đều ngu độn, th́ t́nh yêu ấy vẫn thăng hoa qua bát cháo hành nóng Thị Nở nấu cho Chí Phèo khi hắn tỉnh lại sau cơn say rượu.
Có người bảo Nam Cao không vẽ được một cảnh trí lớn, và cái làng quê của Chí Phèo không ví được với đất nước Trung Quốc vĩ đại đang chuyển ḿnh trong cách mạng. Tôi không đồng ư với lối thưởng lăm văn học này. V́ đối tượng lớn hay bé không làm tác phẩm lớn hay bé. Những chuyến viễn du trên đại dương mênh mông và du thuyền Princess Cruises rộng lớn như một hàng không mẫu hạm chưa thấy đẻ ra một tác phẩm văn học nào có thể đẹp như bài “Ao Thu” của cụ Nguyễn Khuyến làm khi ngồi câu cá trên chiếc thuyền nan. Những biến động trong Thế Chiến thứ hai không bắt buộc sản xuất ra những tác phẩm lớn như thế giới. Ngược lại, không bức tranh nào có thể lớn hơn một trang sách thật thành công về con người, dù chỉ một con người độc nhất. Trong viễn cận đó, bức tranh t́nh yêu Chí Phèo-Thị Nở phải kể là một bức tranh không nhỏ.
Ta hăy t́m hiểu tại sao một hai thế hệ trước chúng ta, trí thức Á Châu lại mê văn chương-sứ điệp của Lỗ Tấn đến thế. Mê đến nỗi gần như bỏ qua những tác phẩm khác của ông dù chúng đẹp một cách viên măn như “Con Diều Giấy” hay “Thanh Xà Bạch Xà”, chỉ v́ chúng không ồn ào tính cách đấu tranh. Ở hai truyện rất hay của ông là “Quê Cũ”“Trong Quán Ruợu”, người ta vẫn chọn để ca tụng những nét chính trị xă hội, như cảnh huống bơ vơ của trí thức Tàu và ḷng thương xuống họ dành cho những kẻ bị đối xử bất công.
Có lẽ phân tâm học hữu dụng ở đây. Freud cho rằng một truyện thành công, ngoài lời hay ư đẹp, cấu trúc vững, tâm lư đúng, cốt truyện ly kỳ vân vân... c̣n có yếu tố khác nữa là đem lại sảng khoái bằng cách giải tỏa những dồn nén nội tâm cho mọi người. Có lẽ trong cảnh đất nước hay xă hội lầm than, tác giả cũng như độc giả cùng bị một số dồn nén trong tâm thức phát nguồn tự sự nhục nhă v́ bị ngoại bang đàn áp. Khi viết ra những khốn khổ đó, cái dồn nén nhẹ đi. Nhưng sự giải tỏa, dù trong văn học, vẫn phải cẩn thận để không tái tạo nguyên văn cái khốn khổ cũ. Nên chi tránh cái nhục cái đau của bản thân, người viết đổ cái đau cái nhục lên đầu các nhân vật. Tác giả như đứng ngoài cuộc nh́n cái khốn khổ đă bị đối tượng hóa thành cái khốn khổ của người khác. Ta thương hại nhân vật thay v́ tủi thân cho chính ḿnh. Và lư do cuối cùng để sảng khoái khi đọc Lỗ Tấn, là người đọc có lúc có thể tưởng là ḿnh cũng đang thương xuống, như Lỗ Tấn thương xuống Nhuận Thổ. Mà đă thương xuống được, th́ chỗ đứng của ḿnh tất phải khá cao, một lư do nữa để sảng khoái.
Vấn đề là khi Châu Á đă phục hồi và người trí thức Á Châu không c̣n khốn khổ v́ cảnh đất nước bạc nhược, th́ cái u uẩn không c̣n, và truyện A Quy mất thời gian tính và sẵn sàng ch́m trong lăng quên. A Quy c̣n được nói đến ngày hôm nay là v́ Lỗ Tấn đă được Trung Hoa cả quốc lẫn cộng đem vào chương tŕnh văn học sử ở bậc trung học. Những cuốn sách như vậy kể như có đời sống riêng, được học sinh từ đời này qua đời khác học, dù bậc sinh thành ra chúng dưới mồ có thú nhận là đỏ mặt khi đọc lại chúng. Ở Việt Nam ta, nếu không được đem vào văn học sử bậc trung học th́ ngày nay c̣n ai biết đến “Trê Cóc”.
Trở về Nam Cao, tôi không nghĩ ông để cái uẩn ức riêng vào trong truyện. Ông không giả vờ đóng vai thượng lưu xă hội mà thương xuống Chí Phèo. Nên chi Chí Phèo không mang thời gian tính. Nét thời gian nếu có cũng không bao giờ khiến tác phẩm có đề tài chính là đấu tranh xă hội. Nói rằng “Chí Phèo” vượt thời gian, th́ cũng không phải là không có căn cứ.

6/ Đặt nhân vật A Quy của Lỗ Tấn bên cạnh nhân vật Chí Phèo của Nam Cao, ông thấy nhân vật nào “xuất sắc” và thành công hơn về mặt văn học?
[MKN] Như đă nói, tôi thích Chí Phèo hơn A Quy. Lư do là A Quy chỉ đần độn thất học chứ không có ǵ khác kể cả tính xấu. Phải chăng Lỗ Tấn thương người nghèo đến mức không muốn cho họ xấu. Cái đó dành cho phong kiến và tư bản. Cái giá phải trả là nhân vật mỏng đi. C̣n Chí Phèo không phải chỉ đáng thương. Nó rất du côn, và ṿi vĩnh. Cường hào xấu, th́ Chí Phèo cũng có quyền xấu. Bị bạc đăi như vậy th́ có xấu cũng phải thôi. Lại hiện thực nữa. C̣n nữa, Chí Phèo có một khía cạnh mà không thấy Lỗ Tấn nói tới nơi A Quy. Chí Phèo biết yêu, và thấy được cái mầu nhiệm của t́nh yêu, trong đó có xu hướng cải thiện. Theo tôi, Chí Phèo quả là “xuất sắc” hơn A Quy.

7/ Ông đă đi thăm căn nhà mà Lỗ Tấn sống và làm việc trong thập niên 30 tại Thượng Hải. Họ Lỗ là một y sĩ đồng thời là một nhà văn. Theo ông, ở con người Lỗ Tấn nói chung phẩm chất nào là đáng quư nhất?
[MKN] Tôi rất tiếc là đă không mua cuốn tiểu sử Lỗ Tấn dày cỡ năm sáu trăm trang mà ông với tôi nh́n thấy ở Thượng Hải. Lư do là tôi không biết nhiều về đời sống của Lỗ Tấn để có ư kiến về phẩm chất nào đáng quư nhất nơi ông. Thường thường đọc một tác giả, nếu chỉ có văn bản không th́ cũng không thiếu thốn lắm. Tuy nhiên nếu có cuốn sách đă không mua ấy, có lẽ tôi hiểu thêm được một vài chuyện nơi ông, thí dụ như sự khoan nhượng của ông với người Nhật, mặc dầu ông rất yêu nước và mặc dầu người Nhật đă tàn ác và đầy thú tính khi xâm lăng Trung Quốc. Và tôi cũng ṭ ṃ về người vợ đầu của ông mà nghe nói có dư luận cho rằng cuộc sống đă không được đối xử công bằng.

8/ Ở Trung Quốc người ta xem Lỗ Tấn là một đại văn hào. Ông có đồng ư với cách nh́n này? Theo ông cái ǵ “vĩ đại” ở họ Lỗ, tư tưởng chính trị và xă hội của ông hay văn học của ông?
[MKN] Tôi nghĩ những tác phẩm văn học của ông rất hay, khi ông không chủ tâm chở ư. C̣n những tác phẩm có mang sứ điệp, cũng như những bài xă luận thuần túy đấu tranh của ông về nữ quyền, về chính trị, về “thân phận con nguời” th́ không có ǵ mới mẻ về mặt suy tư. Tuy nhiên chúng đă hữu dụng khi đưa những vấn đề ấy vào Trung Quốc khi đất nước này c̣n bảo thủ và phong kiến.
Lỗ Tấn chủ tâm cho văn ông phản ánh rất kỹ thời đại của ông để góp phần vào việc canh tân. Cái thời gian tính này giúp ông tranh đấu cho những ư tưởng mà ông cho là đúng. Nhưng thời gian tính như con dao hai lưỡi, nó có cái giá phải trả là làm tác phẩm có hành lư quá nặng nên khó vượt thời gian. Tất nhiên có một số truyện ngắn của ông có khả năng trường tồn, nhưng Lỗ Tấn không phải là Trương Kế chẳng hạn, khi mà 13 thế kỷ rồi đọc lại “Phong Kiều Dạ Bạc” người ta vẫn c̣n thấy thú vị. Và sự thú vị ấy vẫn tồn tại, dù ta có đến tận nơi để thấy ngôi chùa Hàn Sơn không là cái ǵ cả so với những cổ tự khác ở Trung Quốc, cái chuông Trương Kế nghe đêm ấy nay đă thất lạc, và bến Phong Kiều chỉ là một con lạch nhỏ của hệ thủy lợi Giang Nam.
Sau cùng, bức tranh thời sự xă hội của Lỗ Tấn không phải là một bức tranh đầy đủ. Ông quên không phẫn nộ với những tàn bạo của Nhật đối với đất nước và người dân Trung Quốc. Ng̣i bút sắc bén của ông chỉ nhắm vào chính phủ Tàu thời ông và văn hóa Tàu truyền thống mà ông gọi là “hủ nho”. Nếu ông trực diện với cái xung đột nội tâm của ông giữa ḷng quư thầy quư bạn quư văn hóa Nhật khi ông du học bên ấy, với ḷng bất măn v́ sự tàn ác của Nhật đối với đồng bào ông, th́ có lẽ ông đă viết được những áng văn thật và bội phần giá trị, mà văn tài và kỹ thuật của ông sẽ làm cho trở thành bất hủ.

9/ Ông có tin rằng văn học có thể hoàn toàn đứng bên ngoài chính trị và những vấn đề xă hội?
[MKN] Tôi nghĩ rằng không, mà cũng không cần thiết phải thanh lọc hết chính trị hay xă hội ra khỏi văn học. Mà có muốn cũng không đuợc, bởi v́ tác giả bao giờ cũng mang sắc thái chính trị và xă hội của thời đại ḿnh. Người ta không viết trong khoảng chân không. Một tác phẩm không có căn cước thời gian và không gian sẽ phản ánh sự thiếu thật hay thiếu nhạy cảm của tác giả.
Nhưng nếu chủ tâm dùng văn học để đấu tranh xă hội hay chính trị th́ tác phẩm sẽ trở thành vũ khí đấu tranh. Nó trở thành cây mă-tấu ngày xưa hay khẩu M-16 bây giờ, chức năng và công dụng c̣n tùy theo đề tài và hoàn cảnh đấu tranh. Nhưng với bản chất là một vũ khí, nó nhất định sẽ không c̣n là văn học nữa.

10/ Câu hỏi hơi “méo mó nghề nghiệp” của Voyages Saigon: du lịch có tác động và ảnh hưởng ǵ đến công việc sáng tác của ông hay không? Du lịch có góp phần tạo “vốn sống” làm chất liệu cần thiết cho nhà văn, hay chỉ củng cố cái vốn hiểu biết bằng thực tiễn nghe nh́n?
[MKN] Tôi nghĩ du lịch rất lợi cho viết lách. Nhưng du lịch thật ra không đủ mà cũng không cần cho nhà văn. Rất nhiều tác giả, nhất là vào thời du lịch c̣n khó khăn, không đi quá tỉnh nhà đến trăm cây số. Nhưng nếu có được, th́ du lịch rất có lợi cho văn chương. Các văn nhân Trung Quốc trong quá khứ chu du thiên hạ rất nhiều. Vuơng Bột tuổi chưa đầy 20 khi đỗ tiến sĩ, đă sang tới tận vùng biển Bắc Việt.
Nói chung, khi du lịch ta được thấy cảnh đẹp người đẹp, ai chuẩn bị chu đáo lại có dịp học thêm về sử và văn của những miền tham quan. Sau cùng, giao tiếp với các bạn đồng hành cũng là một lợi lạc không ít. Trời sinh mỗi người một tính, đi chung với nhau trong hai tuần hay một tháng, qua những thử thách dù nhỏ bé ta cũng thấy được những diện khác nhau của nhân tâm. Và kinh nghiệm dạy tôi rằng, thế này hay thế khác, con người bao giờ cũng có điều thiện. Riêng về Voyages Saigon, tôi phải kể thêm ưu điểm là tập đoàn hướng dẫn viên tận tâm, có văn hóa cao và cách tŕnh bày mạch lạc, hấp dẫn.

– Xin cảm ơn ông đă cho phép thực hiện bài phỏng vấn ngắn này.

Ảnh bên trái [từ trên xuống dưới]: 1/Chân dung của Lỗ Tấn; 2/Ngôi nhà số 9 khu “Continental Terrace” trên phố Shang Ying Lu, Thượng Hải; 3/Lỗ Tấn vào ngày sinh nhật thứ 49 (1930); 4/[Cùng một ảnh chụp năm 1933 tại Thượng Hải, phần nửa trái, từ trái sang phải]: Agnes Smedley, Bernard Shaw, Tống Khánh Linh; 5/[Phần nửa phải, đứng ngoài cùng phía tay phải]: Lỗ Tấn.

 

 
 

DỰ KIẾN CHO MÙA HÈ NĂM 2008:
BUỔI THUYẾT TR̀NH VỀ ĐỀ TÀI “TÂY TẠNG: TỪ THUYẾT LUÂN HỒI ĐẾN HIỆN TƯỢNG TÁI SINH TRONG PHẬT GIÁO MẬT TÔNG”

Giữa tháng 7, 2008, Voyages Saigon dự kiến sẽ tổ chức một buổi thuyết tŕnh về đề tài “Tây Tạng: từ thuyết Luân hồi đến hiện tượng Tái sinh trong Phật-giáo Mật-tông”. Nội dung của buổi thuyết tŕnh này sẽ giới thiệu đại cương về đất nước và văn hóa Tây Tạng, sau đó sẽ luận bàn về thuyết Luân hồi từ điểm xuất phát của nó trong Ấn Độ giáo cho đến khi nó phát triển thành hiện tượng tái sinh trong Phật-giáo Mật-tông ở Tây Tạng. Từ khái niệm Nhân quả (“Karma”)lư thuyết về Luân hồi cho đến hiện tượng Tái sinh (“Tulku”) là cả một hành tŕnh phát triển và biến thái rất lâu dài và phức tạp, trong đó có sự can thiệp của các yếu tố về địa lư và nhân văn, của nhiều thứ tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau, và sự “nhuộm màu” của chính trị lẫn ḷng cuồng tín và truyền thống mê tín. Nhưng ranh giới giữa cái khả tín và bất khả tín là ở chỗ nào? Có đúng là nếu người ta không thể chứng minh ngược lại về một lư thuyết hay một hiện tượng th́ người ta không thể thẳng thừng bác bỏ nó hay không? Người thuyết tŕnh: B.S. Hoàng Huy và Trần Chính (Voyages Saigon). Địa điểm của buổi thuyết tŕnh: sẽ thông báo sau.
Đây sẽ là buổi nói chuyện hứa hẹn nhiều nội dung tranh luận rất thú vị. Xin mời đón đọc bản tường tŕnh trên trang Club Espresso này.
CLUB EsPRESSO.

Ảnh bên trái: một lạt-ma “tulku” được thờ trong điện Potala ở Lhasa, Tây Tạng – Ảnh của Voyages Saigon.

 

club espresso
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved