Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Năm nay, khi đoàn du-lịch Nhật Bản Mùa Xuân (tháng 4/2009) của Voyages Saigon đă đầy chỗ, chúng tôi bất ngờ nhận thêm hai người khách cuối cùng, ngoài tất cả mọi dự kiến. Đó là đôi vợ chồng đến từ Aix-en-Provence, miền Nam nước Pháp, ông bà Vơ Văn Hoàng. Và lại thêm một bất ngờ thích thú khác cho nhiều người trong đoàn: ông Vơ Văn Hoàng là bào đệ của bác sĩ Vơ Văn Tùng ở miền Nam California, một khách hàng quen thuộc của Voyages Saigon. Là người Việt và là người Huế (quê quán), đồng thời c̣n là người Pháp và là người miền Provence (nơi sinh sống từ nhiều năm nay), ông Vơ Văn Hoàng là sự tổng hợp của nhiều tính cách tưởng như trái ngược nhau: ông cư xử từ tốn và nói năng nhỏ nhẹ, đồng thời lại là người rất cởi mở và đặc biệt có óc khôi hài.
Sau khi thực hiện hành tŕnh thăm Nhật Bản – từ Osaka đến Tokyo – vào mùa hoa anh đào năm nay, ông Vơ Văn Hoàng đă ghi lại một cách bộc trực trong bài viết dưới đây những suy nghĩ và cảm nhận của riêng ông về nước Nhật, người Nhật, văn hóa Nhật và đời sống ở Nhật mà ông đă có dịp tận mắt mục kích và quan sát trong 9 ngày du-lịch ngắn ngủi với Voyages Saigon.
Trang SALADE EsPRESSO xin cảm ơn tác giả Vơ Văn Hoàng và xin trân trọng giới thiệu bài viết sinh động với nhiều nét hóm hỉnh của ông.
SALADE EsPRESSO.
(California, Dec 31, 2009)

[Những ảnh đăng trong bài này của Voyages Saigon Inc.]


NHẬT BẢN MÙA HOA ANH ĐÀO

Mùa xuân năm nay, 2009 chúng tôi vui mừng được viếng thăm Nhật Bản vào dịp hoa anh đào nở sau bao năm mơ ước…
Mùa hoa anh đào đến, nước Nhật hănh diện đón du-khách đến thăm và thưởng hoa. Thời điểm này là đầu mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm.
Thời gian lễ hội hoa anh đào tương đối ngắn. Riêng trên đảo Honshu, vùng du lịch nổi tiếng mà chúng tôi cũng như du khách thích đến, từ Osaka qua Kyoto đến Tokyo, chỉ có lối hai tuần lễ từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 4 mà thôi, v́ vậy phải đến đây đúng lúc mới thấy hết cái lạ, cái đẹp trong thiên nhiên của nước Nhật.
Từ Pháp, chúng tôi bay đến Osaka ba hôm trước rồi ngày 3 tháng 4 tháp tùng đoàn du lịch Voyages Saigon bay từ Los Angeles qua gồm 40 Việt kiều Mỹ ,do anh Trần Chính hướng dẫn, đi tours 10 hôm với chủ đề: Nhật Bản mùa hoa anh đào 2009.
Chuyến thăm nước Nhật kỳ này rất thành công, trời nắng tốt, thời tiết dễ chịu, chỉ gặp mưa nhỏ một buổi chiều mà thôi. Rất may mắn là hoa anh đào nở đúng lúc không sai một ngày, anh Chính gọi là “hoa măn khai”, nở đến hơn 90%, và cũng cần nhấn mạnh là đoàn du lịch thăm Nhật Bản của chúng tôi năm nay gặp rất nhiều may mắn...
Chúng tôi cùng nhau đi một xe Bus rất tiện nghi. Tài xế du lịch ở Nhật chỉ nói tiếng Nhật mà thôi. Người guide Nhật là người nhiều kinh nghiệm: tên ông là Joe, nói tiếng Mỹ rất rành, đă từng hướng dẫn nhiều đoàn Việt kiều nên rất thoải mái với chúng tôi... Bản thân ông lại xuất thân từ một trong những ḍng họ vơ sĩ đạo (bushido, hay samurai) cuối cùng của nước Nhật. Tuy ông đă gần 78 tuổi, nhưng vẫn nhanh nhẹn và khỏe mạnh như một thanh niên. C̣n người trưởng đoàn, anh Trần Chính, một người am hiểu về lịch sử và văn hóa nói chung, đă nhiều lần tổ chức tours nầy, thật là một người “hết sẩy”. Thành thật khen ngợi con người yêu nghề, có hiểu biết sâu rộng về lịch sử, văn hóa, tôn giáo của nước Nhật. Anh rất là dễ thương, vui vẻ, sẵn ḷng với tất cả mọi người trong đoàn du lịch chúng tôi... Ngoài nước Nhật, mỗi năm anh c̣n tổ chức 9, 10 tours khác nhau đi ṿng quanh thế giới. Hy vọng lần sau chúng tôi sẽ c̣n đi tour với anh Chính nữa!
Chuyến du lịch ngắn ngủi, biết chút ít về đất nước này, xin ghi lại đây để cùng chia sẻ với nhau niềm vui du lịch.

VÀI HÀNG VỀ NƯỚC NHẬT
Nước Nhật được thành lập từ rất lâu đời, tổ tiên của người Nhật là di dân từ phía bắc của lục địa Châu Á vào quần đảo Nhật. Phật giáo từ Trung quốc và Đại Hàn du nhập vào Nhật Bản năm 552. Kinh đô đầu tiên, Nara, được xây dựng vào năm 710, sau đó dời sang Kyoto vào năm 794, và cuối cùng là Tokyo từ năm 1603 đến nay. Nước Nhật đă trải qua bao nhiêu thời đại vua chúa và nhiều cuộc nội chiến, cuối cùng là cuộc Đệ Nhị Thế Chiến. Tháng 8 năm 1945 Nhật bi Mỹ ném hai trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki nên đă đầu hàng và ngưng chiến. Cả nước hầu như bị tàn phá và hư hại rất nhiều, nhiều thành phố bị san bằng và kinh tế hoàn toàn kiệt quệ.
Năm 1951, Nhật Bản và Hoa Kỳ kư hiệp ước ḥa b́nh và giao trả nền độc lập cho Nhật. Từ một nước bị chiến tranh tàn phá, chỉ trong ṿng mấy chục năm ḥa b́nh và phát triển kỹ nghệ, Nhật Bản ngày nay đă trở thành một trong những cường quốc kinh tế giàu mạnh nhất thế giới… và là một đất nước rất đáng để du-khách ngoại quốc đến viếng thăm.
Với khoảng 125 triệu dân, diện tích chỉ bằng 1/25 nước Mỹ, Nhật Bản gồm có 4 đảo chính là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và hàng ngàn đảo nhỏ, trải dài trên khoảng 3000 cây số như một ṿng cung ở phía đông Châu Á, nằm trong biển Thái B́nh Dương, giũa Nga và đảo Đài Loan.
Là một quốc gia Á Châu với xă hội tân tiến và kỹ nghệ phát triển, Nhật lại đồng thời nổi tiếng với truyền thống bảo tồn những giá trị văn hóa lâu đời, trong đó có đạo Shinto (Thần đạo), những ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo, và những h́nh thái văn hóa đặc thù và độc đáo mà khi nghe nói đến chúng ta biết ngay đó là của Nhật Bản, ví dụ như vườn Nhật, trà đạo, nghệ thuật cắm hoa Ikebana, sân khấu kịch cổ điển Nôh, món shushi, rượu saké v.v…
Đến thăm nước Nhật, được xem lễ hội hoa anh đào (hanami), được mục kích lối sống văn minh của người Nhật, được tận mắt nh́n thấy các thành phố với nhà cửa, xe cộ tươm tất, sạch sẽ... người viết muốn chia sẻ những cảm nhận của ḿnh trong bài viết ngắn này. Quả thật người Nhật đă khiến cho các dân tộc da vàng, trong đó có người Việt Nam chúng ta, được hănh diện lây. Du-lịch Nhật Bản để vừa khâm phục vừa học hỏi và noi gương…
Hành tŕnh du-lịch “Nhật Bản mùa Xuân – Cố đô, hoa anh đào” của Voyages Saigon bắt đầu với Osaka, rồi đi Nara, rồi cố đô Kyoto, sau đó đi qua vùng núi lủa Fuji (Phú Sĩ sơn), rồi ghé thăm Kamakura và Yokohama, trước khi đến điểm thăm viếng cuối cùng là thủ đô Tokyo. Hành tŕnh này dài hơn 1000 cây số, nằm ở trung tâm của đảo chính Honshu, đi bằng xe coach du-lịch rất tiện nghi, có đoạn đi bằng tàu siêu tốc (bullet train) nổi tiếng của Nhật, và có cả đi du thuyền trên hồ Ashi trong vùng núi Phú Sĩ. Hành tŕnh từ Osaka sang Tokyo c̣n là cái trục lịch sử - văn hóa rất quan trọng của nước Nhật, và đồng thời là hành tŕnh hai chiều mà du-khách đi lại và thăm viếng nhiều nhất khi đến Nhật Bản.

OSAKA
Đây là thành phố của kỹ nghệ và thương mại, nơi kỷ niệm khó quên nhất của chúng tôi là được thăm lâu đài Osaka, một ṭa kiến trúc lộng lẫy, và được đi dạo phố dưới hoa anh đào…
Do chúng tôi là hai thành viên duy nhất của đoàn du-lịch Nhật Bản Mùa Xuân 2009 đến từ Châu Âu (Pháp), vợ chồng chúng tôi không đi cùng đoàn từ Hoa Kỳ mà tự ḿnh bay đến Osaka trước. Ngồi trên máy bay cạnh một thanh niên Nhật, anh đă tận t́nh hướng dẫn chúng tôi lấy xe limousine từ phi trường đi về khách sạn.
Với 2,6 triệu dân, Osaka là đô thị lớn thứ ba sau Tokyo và Yokohama, được xem là thành phố kỹ nghệ và thương mại quan trọng của Nhật. Thành phố này có hải cảng lớn và phi trường Kansai-Osaka hiện đại, xây dựng như một ḥn đảo ngoài biển v́ không c̣n đủ đất.
Đến đây, không thể không đi thăm lâu đài Osaka, một ṭa kiến trúc lộng lẫy, có thành và hào bao quanh, vào mùa xuân hoa anh đào nở rộ khắp trong khuôn viên của lâu đài, gây ấn tượng mạnh mẽ cho du-khách. Từ trên tầm cao của ṭa kiến trúc uy nghi và kiên cố này, ta có thể ngắm nh́n bức tranh toàn cảnh rất đẹp của thành phố. Đây chính là tổng hành dinh của tướng quân Toyotomi Hideyoshi, người đă thống nhất nước Nhật về mặt chính trị lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ 16.
Rất nhiều cơ sở kỹ nghệ được xây dựng ở Osaka, và vào năm 1970, Hội chợ Triển lăm Quốc tế (Osaka Expo) được tổ chức tại nơi này. Từ năm 2001, Osaka c̣n mở cửa khu giải trí Universal Studios Japan, rập khuôn theo kiểu Mỹ nhưng với nhiều nét đặc trưng của Nhật.
Dạo phố trên những con đường chính với hoa anh đào nở rộ, chúng tôi có cảm giác lâng lâng cứ tưởng như đang mơ v́ không ngờ sau bao nhiêu biến đổi của cuộc đời kể từ khi xa quê hương lại có một ngày đuợc đặt chân lên đất nước đẹp đẽ này, mà lại ngay vào giữa mùa hoa… Dạo quanh phố phường, chúng tôi nh́n thấy rất nhiều tiệm ăn nằm dọc theo con kênh nhỏ trên phố Dotonbori, đêm ngày ǵ người ta đều đi lại đông như kiến. Lần đầu tiên tôi nh́n thấy hàng trăm người đi bộ cùng băng qua đường một lượt khi đèn xanh bật lên, tôi chụp h́nh quá xá luôn v́ quang cảnh thật là lạ mắt! Nước nhỏ mà sao dân đông quá!
Trong hầu hết các siêu thị đều có chợ thưc phẩm với rất nhiều hàng quán nằm ở tầng dưới cùng. Chúng tôi đă được nếm khá nhiều thức ăn của Nhật. Thú thật ăn các món ăn Việt dù sao cũng vẫn ngon và khoái khẩu hơn! Trong chợ thấy bán nhiều nhất là loại cơm phần hộp (bento) gồm có cơm, cá, tôm, shushi bới sẵn, khách chỉ cần mua đem về nhà hoặc đem lên xe lửa để ăn trên đường về v́ cuộc sống của người Nhật vô cùng bận rộn, người ta chỉ biết làm việc và làm việc, ngoài ra không có đủ giờ để ăn, ngủ và đi chơi. Chúng tôi c̣n để ư thấy có nhiều quán ăn Pháp và các tiệm bánh ḿ, bánh ngọt Pháp. Ngay cả các loại rượu vang, nước suối, dầu olive của Pháp cũng thấy có bán đầy, không thiếu món ǵ, thế mới biết dân Nhật chuộng hàng made in France!
Chúng tôi ngạc nhiên thấy phố xá, xóm phường ở đây rất tươm tất sạch sẽ, xe hơi chạy ngoài đường được lau rửa bóng loáng, nhất là xe taxi. Tài xế taxi th́ toàn mặc đồ lớn, thắt cà-vạt hay thắt nơ và mang găng tay trắng. Có điều lư thú là nghề lái taxi ở Nhật chỉ dành riêng cho dân Nhật mà thôi.
Người đi bộ có lề đường rộng răi, có lane dành riêng cho xe đạp, rất đông người ở Osaka đi xe đạp đến sở làm hay đi chơi. Người Nhật b́nh thường chúng tôi gặp ngoài đường trông giống như dân bên Pháp đi ăn đám cưới vậy, ai cũng bận đồ lớn. Dân đi làm hàng ngày, phần đông là các cô cậu trông c̣n rất trẻ, mặc toàn suite màu đen hay màu thẫm, sơ mi trắng, thắt cà-vạt, giày da đen đánh bóng loáng, một tay xách cặp, tay kia cầm điện thoại di động… Gặp gỡ hay chào từ giă nhau họ đều cúi đầu sát đất nh́n thấy cả giày vớ, thảo nào ai cũng lo đánh giày mỗi ngày trước khi ra đường!
Người Nhật rất lễ phép và trật tự. Có điều hơi khó cho du-khách là người Nhật ít nói tiếng Anh, lại càng hiếm người nói tiếng Pháp, vậy mà các tiệm ăn, tiệm bán bánh ngọt made in France th́ lại đầy dẫy! Ngay cả bảng hiệu, quảng cáo, và các h́nh thức giao dịch thương mại cũng toàn bằng tiếng Nhật. Cũng may là trước các tiệm ăn Nhật luôn có trưng bày các món ăn bằng nhựa trông hấp dẫn giống y như thật, có ghi giá cả hẳn hoi, nên cũng đỡ cái bực ḿnh khi vào tiệm mà phải làm dấu để gọi các món ăn, và nhiều lúc c̣n hồi hộp v́ không biết phải chọn món ǵ... Tuy nhiên, nếu có lúc phải ra dấu để đặt món ăn th́ cũng thú vị và thật ra cũng là một kỷ niệm vui vui nhớ đời: ngay bữa ăn đầu tiên mới đến Osaka (do vợ chồng chúng tôi đến Nhật trước đoàn 1 ngày), chúng tôi đă bị rơi vào hoàn cảnh như vậy, nhưng rốt cục đói bụng quá cũng đành gọi đại các món ăn, thôi th́ họ muốn tính tiền bao nhiêu th́ cứ để họ tính!

NARA
Là kinh đô cố định đầu tiên của Nhật Bản, xây dựng vào thế kỷ thứ 8 (710-784), với dân số hiện nay khoảng 400,000 người, Nara c̣n là điểm du-lịch nổi tiếng với chùa Todai-ji (Đông Đại Tự) và Vườn nai (Lộc uyển).
Lúc chúng tôi vào thăm Vườn nai, vừa bước qua cổng vườn, đă thấy cả đoàn nai lớn nhỏ, nuôi thả tự do chạy ào đến để xin ăn của du-khách. Cũng vui là ở đây nai không ăn cỏ mà ăn… bánh ngọt do du-khách mua ở các quán dựng sẵn hai bên đường vào chùa. Chúng tôi vừa cho bầy nai ăn vừa chụp h́nh lia lịa v́ lần đầu tiên gặp giống nai tham ăn đến như vậy!
Sau đó chúng tôi vào viếng chùa Đông Đại, ngôi chùa thờ Phật bằng gỗ lớn nhất thế giới xây khoảng giữa thế kỷ thứ 8, tọa lạc trên một khu đất lớn mênh mông được chỉnh trang thành công viên với vô số cây anh đào đang nở hoa màu hồng và trắng rất đẹp. Chúng tôi bước vào ngôi chánh điện cao ngất để chiêm ngưỡng pho tượng Phật khổng lồ cao 15 mét đúc bằng đồng đen, là tượng Phật ngồi bằng đồng lớn nhất thế giới. Anh Trần Chính giải thích tượng Phật này là đức Đại Nhật Như Lai (Vairocana), thuộc phái Hoa Nghiêm. Người ta bảo vậy th́ cứ tin vậy chứ theo tôi th́ ở Việt nam, Thái Lan, Cam Bốt và Trung quốc đâu thiếu ǵ tượng Phật cũng lớn lắm!

KYOTO
Đây là thành phố cố đô của Nhật Bản, và là chặng dừng chân quan trọng nhất trên hành tŕnh du-lịch Nhật Bản mùa Xuân của chúng tôi, bởi v́ Kyoto là cái nôi của văn hóa - nghệ thuật từ ngàn xưa ở Nhật. Thành phố này có thể ví như Hà Nội, Huế và Hội An ở Việt Nam ta góp lại.
Với diện tích không lớn so với Tokyo, Osaka hay Nagoya, và với dân số khoảng 1,4 triệu dân, cố đô Kyoto lại là thành phố có nhiều điểm thăm viếng nổi tiếng, rất lư thú và đáng giá về lịch sử - văn hóa như Hoàng Cung cũ (Cố Cung), lâu đài Nijo, Lầu Bạc (Ngân Các Tự), Lầu Vàng (Kim Các Tự), Lối ṃn Hiền giả, hàng ngàn ngôi đền Thần đạo và chùa Phật giáo, cùng hàng trăm khu vườn Nhật, phố cổ Gion với những nàng geisha mặc áo kimono sặc sỡ ôm những chiến tráp bọc lụa đi lại đỏm dáng...
Được xây dựng vào năm 794, với vị thế phong thủy đẹp nhất trong số các thành phố cổ ở Nhật, Kyoto đă mặc nhiên trở thành kinh phủ của Hoàng tộc Nhật từ cuối thế kỷ thứ 8 cho măi đến giữa thế kỷ thứ 19, một giai đoạn lịch sử trải dài liên tục trên 1000 năm!
Đến thăm Nhật Bản mà chỉ ghé thăm thủ đô Tokyo th́ chưa đủ, chưa thể nói là đă đến thăm nuớc Nhật, v́ thật ra nền văn hóa cổ điển cùng những giá trị truyền thống lâu đời của đất nước này không hề nằm ở chốn kinh kỳ hiện đại, đông đúc và hào nhoáng ấy. Du-khách phải ghé thăm cố đô Kyoto th́ mới có cơ hội thưởng thức – như anh Trần Chính nói với chúng tôi – “cái không khí trầm mặc xưa cũ, đầy chất hoài niệm lăng mạn của chốn cố đô ấy”. Nhất là khi đoàn chúng tôi đến thăm Kyoto vào mùa hoa anh đào nở, hoa nở khắp mọi nơi, hoa nở tràn lan dọc theo tất cả các con đường, các con sông lớn nhỏ trong thành phố, và đẹp nhất là hai bên con đường tản bộ nổi tiếng mang tên “Lối ṃn Hiền giả”.
Đến thăm Hoàng Cung cũ ở Kyoto, du-khách chỉ được phép viếng phần bên ngoài mà thôi, chứ không được đặt chân vào phần nội thất. Chúng tôi được hướng dẫn đến trước các cung và điện, đứng ở bên ngoài để nh́n vào và nghe người guide đặc biệt của “Tôn Nhân Phủ” (Imperial Household Agency) thuyết minh giới thiệu, sau đó được tự do chụp h́nh. Nơi ăn chốn ở của Vua và Hoàng hậu Nhật trong những thế kỷ trước đây trông cũng đơn giản, không hào nhoáng như cung điện của các bậc vua chúa ở Châu Âu (thí dụ Điện Versailles ở Pháp). Chúng tôi c̣n được dắt đi dạo trong Vườn ngự uyển, một khu vườn lớn cũng kiểu cổ điển Nhật, có hồ, có suối và cầu bắc qua suối, có tùng, bách, và nhiều giống hoa, trong đó có hoa anh đào mùa xuân… Đúng là làm vua chúa nơi đâu cũng sướng thật!
Trong đời sống người dân Nhật, làm vườn là một nghệ thuật rất công phu. Hoa viên kiểu Nhật xuất phát từ các nguyên lư tín ngưỡng của đạo Shinto (Thần đạo) gắn bó con người với thiên nhiên, và cũng từ triết lư an nhiên, thanh tịnh của đạo Phật. Chúng tôi được biết có năm kiểu Vườn Nhật khác nhau:
- Vườn khô hay vườn cát-đá (Dry garden, Sand and stone garden): vườn thiền, bằng phẳng, tạo dáng hoàn toàn bằng cát và các phiến đá cảnh
- Vườn phẳng (Flat garden): kiểu vườn mở rộng của vườn cát-đá, có thêm cây cảnh được sắp xếp với dụng ư
- Vườn đi dạo (Stroll garden): vườn hai tầng với cây và hoa bốn mùa, tầng trên có hồ và cầu bắc qua hồ, nối liền với tầng dưới bằng hệ thống suối
- Vườn trà (Tea garden): vườn với nhiều cây xanh và rêu, có trà thất và lối đi lát đá dẫn đến trà thất
- Vườn tự nhiên (Natural garden): vườn kiểu mới với nhiều cây lớn tạo bóng râm và lối đi dạo quanh co trong vườn
Sau Hoàng Cung, chúng tôi đến viếng chùa Daitoku-ji, c̣n gọi là “ngôi đền của trà đạo”, do chùa này gắn liền với tên tuổi của Sen no Rikyu, ông tổ của nghệ thuật trà đạo wabi-cha của Nhật Bản. Và ở đây chúng tôi đă được dự khán nghi thức thết trà và uống trà theo lối Nhật rất thú vị. Chúng tôi cùng ngồi quỳ gối xung quanh một bàn trà, phía sau bàn có ba bốn cô thiếu nữ mặc kimono. Mọi người đều giữ im lặng và không chụp h́nh. Đại khái nghi thức trà đạo như sau:
Cho trà bột màu xanh (matcha), chứ không phải trà lá như ta thường uống, bằng muỗng xúc trà nhỏ vào chén gốm hoặc sành (chawan), rồi châm thêm nước sôi múc từ ấm nước (kama) đun trên ḷ than (furo) với chiếc môi nhỏ có cán dài bằng tre (bishaku), xong quậy đều tay bằng một cây “chổi” nhỏ bằng tre (chasen) cho đến khi nước trà xanh biếc sủi lên một lớp bọt dày. Uống trà th́ với tư thế như sau: khách nhận chén trà từ chủ nhà, đặt chén giữa ḷng bàn tay trái, tay phải cầm miệng chén, từ từ xoay chén hai lần (khoảng 90 độ), cốt ư đưa phần bên ngoài có hoa văn đẹp của chén trà về phía người mời trà để trả lễ, rồi mới đưa lên miệng uống từ từ bằng ba hớp. Uống trà cũng lắm công phu đấy chứ nhỉ! Nghệ thuật mà.
Sau nghi thức trà đạo, chúng tôi được hướng dẫn vào thăm khu vườn thiền Daisen-in. Vườn này được cấu tạo bằng cát và đá, tạo h́nh ảnh thu nhỏ của trời đất, núi non, sông hồ, và cả đại dương (mà ở đây gọi là “đại hải”) với muôn ngàn đợt sóng… Vào đây, du-khách như bước qua cửa Thiền để thâm nhập vào cái thế giới thinh lặng và an định của nội tâm. Anh Trần Chính c̣n giới thiệu với chúng tôi gian pḥng nhỏ dùng làm trà thất đơn sơ, nơi ngày xưa ngài Sen no Rikyu đă thết trà đăi Đại Tướng quân Hideyoshi trong cuộc chiến tranh 30 năm để thống nhất nước Nhật.
Sau khi rời chùa Daitoku-ji, chúng tôi đến viếng Ginkaku-ji (Ngân Các Tự), một phức hợp đền chùa và trang viên do một Sứ quân gịng họ Ashikaga xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 15, tọa lạc dưới chân dăy núi Higashiyama ở phía đông-bắc Kyoto. Ở đây có dăy biệt điện và hoa viên của vị Sứ quân với kiến trúc thanh nhă và cổ điển đă trở thành mẫu mực cho “ngôi nhà Nhật” (the Japanese house) về sau này. Gần đó là cái am lớn hai tầng, cũng do vị Sứ quân cho dựng lên để thờ Quan Âm Bồ tát, nghe nói ngày xưa nguyên cả ngôi lầu bằng gỗ này được thếp bạc quỳ sáng trưng, từ đó mà có tên gọi là Lầu Ngân Các.

Ra khỏi Ngân Các Tự chúng tôi nh́n thấy “Lối ṃn Hiền giả” (Philosopher Path), con đường vô cùng thơ mộng vẽ quanh co dưới chân núi, bên cạnh gịng nước nhỏ xanh mát rợp bóng hoa anh đào mùa xuân, một địa điểm nổi tiếng của Kyoto mà du-khách không thể nào bỏ qua. Cùng thong thả đi dạo trên con đường này, chúng tôi tưởng chừng như đang đi lạc vào chốn thiên thai…
Buổi chiều, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Kinkaku-ji (Kim Các Tự), ngôi lầu nhỏ thếp toàn vàng quỳ, nằm giữa hồ nước trong mát, trong khu vườn Thiền tuyệt mỹ. Lầu Kim Các này được xây dựng trước Lầu Ngân Các gần một thế kỷ bởi một vị Sứ quân khác cũng thuộc gịng họ Ashikaga. Đây đúng là một kiệt tác về kiến trúc từ lâu được xem như biểu tượng của nước Nhật, và cũng là điểm thăm viếng mà chúng tôi thích nhất ở Kyoto. Trong nắng vàng óng ả của buổi chiều mùa xuân, ngôi lầu thếp vàng nổi bật và sáng rực rỡ, in bóng xuống mặt hồ xanh, giữa tiếng thông reo vi vu, đối với chúng tôi không khác ǵ cảnh Đà Lạt...
Ngày kế tiếp, chương tŕnh thăm viếng cố đô Kyoto cũng không kém phần hấp dẫn. Buổi sáng chúng tôi đi thăm lâu đài Nijo, một phức hợp kiến trúc đồ sộ gồm nhiều dăy cung điện, được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 17 bởi những vị Sứ quân đầu tiên của chính quyền Tokugawa. Bước vào bên trong, nét đặc biệt về thiết kế là một hành lang dài chạy bao quanh cung điện với “sàn họa mi” rất độc đáo, mỗi bước chân người ta đi trên sàn gỗ ấy đều gây nên tiếng ríu rít như tiếng chim họa mi. C̣n về trang trí nội thất th́ chúng tôi được xem rất nhiều tác phẩm mỹ thuật tuyệt đẹp đặc trưng của thời kỳ Edo (1603-1868). Vào thời kỳ Edo, các Sứ quân Tokugawa thiết lập một chính quyền quân phiệt riêng biệt bên cạnh triều đ́nh của Nhật hoàng, vốn chỉ có hư vị. Măi đến cuối thời kỳ Edo này, Nhật hoàng Meiji (Minh Trị Thiên Hoàng) mới dành lại được thực quyền chính trị cho ḿnh.
Buổi chiều chúng tôi viếng đền Heian (B́nh An Thần Cung), là ngôi đền Thần đạo lớn nhất ở Kyoto, với tường trắng, cột sơn son đỏ tía lộng lẫy. Kỷ niệm khó quên ở ngôi đền này chính là khu vườn tràn ngập hoa anh đào đang vào độ măn khai, với nhiều sắc màu trắng, hồng khác nhau.
Sau đó chúng tôi đến viếng chùa Sanjusangen-do, nổi tiếng với gian chánh điện dài nhất thế giới chứa 1001 tượng Phật Quan Âm, bằng gỗ thếp vàng cao gần bằng người thật, mỗi vị có hàng trăm cánh tay và hàng trăm con mắt trong ḷng mỗi bàn tay. Anh Trần Chính giải thích rằng ngài là Bồ tát “thiên thủ thiên nhăn”, có ngàn tay ngàn mắt để “cứu nạn cứu khổ” cho chúng sanh, theo cách hiểu của Phật giáo Đại thừa. C̣n tôi th́ nhớ mẹ tôi thường hay tụng niệm “nam-mô-a-di-dà-phật-thiên-thủ-thiên-nhăn-đại-từ-đại-bi-quan-thế-âm-bồ-tát…”, nay mới hiểu ra là như thế! Mẹ tôi giờ này đă an nghỉ dưới bóng từ bi của đức Phật, thương nhớ mẹ vô cùng… (Mẹ tôi qua đời tháng 3 năm 2008 tại Hoa Kỳ).
Buổi chiều gần tối chúng tôi được anh Trần Chính và ông tour guide đưa xuống khu Gion, khu phố cổ ở trung tâm Kyoto. Tại đây anh dắt chúng tôi đi tản bộ vào phố Pontocho, một con đường nổi tiếng với những quán ca-kỹ geisha. Chính trong khu Gion này du-khách rất thường được nh́n thấy những cô maiko (thiếu nữ đang thực tập làm geisha) ăn mặc lạ mắt, mặt đánh phấn trắng, ôm những chiếc tráp bọc lụa, đi lại thoăn thoắt trên đường phố.
Geisha là những nghệ sĩ chuyên nghiệp, họ được đào tạo từ trường lớp chuyên dạy nghề này, để vừa có tŕnh độ văn hóa vừa rành nghệ thuật đàn hát, lại phải giỏi thù tiếp, chuyện tṛ và thết trà những khách hàng là đàn ông, và nghe nói họ cũng có thể đi xa hơn thế nữa trong việc phục vụ khách… Người ta có thể hẹn gặp geisha tại các nhà hàng đặc biệt, hay ngay tại nhà riêng của họ, và thù lao trả cho họ thường là rất đắt.
Con phố Pontocho toàn nhà nhỏ và trệt, mặt tiền mỗi căn chỉ lối 3 thước với cửa đẩy vào bằng gỗ rất thô sơ. Rất dễ nhận ra nhà nào là quán ca-kỹ, bởi v́ trước cửa có treo đèn lồng đỏ và bên cạnh cửa c̣n có trưng h́nh của các cô geisha. Có khá nhiều quán ca-kỹ trong con phố nhỏ và xưa này, vốn rất sạch sẽ và có cái ǵ đó vô cùng lôi cuốn đối với khách nam giới, nhất là về đêm với những ánh đèn lồng mờ mờ của chúng.
Trên đường phố của khu Gion, chúng tôi c̣n có dịp nói chuyện chào hỏi vài ba câu với những cô geisha, và được dịp chụp h́nh chung với các cô nữa! Các cô trông nhỏ người thôi, mặt trang điểm rất công phu, da mặt đánh phấn trắng xóa, phía sau cổ phấn trắng để lộ làn da khêu gợi, môi thoa son màu đỏ, tóc bới cao, lại nghe nói mái tóc được trang điểm theo mùa, vào mùa này thường cài trâm có gắn hoa anh đào. Một vài cô nói tiếng Anh lưu loát, đi ngoài phố tay luôn bưng cái tráp bọc lụa hay cầm một túi xách đặc biệt cũng may bằng lụa dành (loại túi xách này chúng tôi thấy bán trong tiệm, có nơi giá bán cả ngàn đô-la Mỹ!).
Các cô geisha hay maiko mặc áo kimono rất đắt tiền, gồm hai ba lớp áo bên trong và ngoài, với hoa văn nhiều màu sặc sỡ và lộng lẫy. Chúng tôi học được vài từ ngữ về chiếc áo kimono: furisode là loại kimono có hai tay thụng dài, c̣n yukata là loại kimono bằng vải để mặc mùa hè hay trong nhà, obi là dây nịt dài đến 4 thước thắt phía sau lưng giống như cái gối hoặc thắt nhiều kiểu khác, tabi là đôi vớ trắng, zori là đôi dép hay guốc có hai quai đi qua ngón chân cái (người Việt ḿnh gọi là dép Nhật hay guốc Nhật). Đi dạo phố phường trong khu Gion, chúng tôi được nh́n thấy không biết bao nhiêu điều lạ mắt, thật chả có nơi nào giống như vậy!

HAKONE
Buổi sáng, sau khi rời Kyoto và trên đường đi Hakone, chúng tôi ghé qua Nagoya, thành phố kỹ nghệ lớn thứ ba ở Nhật Bản, và tại đây chúng tôi được đưa đi thăm một ngôi đền Thần đạo rất đặc biệt, gây nhiều thích thú cho tất cả chúng tôi.
Quả đây là một ngôi đền vô cùng đặc biệt, riêng đối với vợ chồng chúng tôi phải nói là có một không hai trên quả đất này. Anh Trần Chính có nhă ư tặng “món quà du-lịch” bất ngờ này cho đoàn nên anh và ông tour guide người Nhật không hề báo trước với chúng tôi, hơn nữa ngôi đền này cũng không thấy ghi trong chương tŕnh, cho nên tên gọi là ǵ tôi cũng quên mất rồi.
Ngôi đền Thần đạo này chỉ có một điện thờ nhỏ, bên trong thấy thờ toàn là… dương vật của quư ông! Hàng trăm của quư lớn nhỏ, đủ màu đủ kiểu dáng, được trưng bày rất tự nhiên. Có cái dài đến mấy thước tây, trông như khẩu thần công, có cái nhỏ con gầy g̣ trông rất tội nghiệp. Chẳng những trong điện thờ, mà ngoài khu vườn của đền thờ có một cái am nhỏ cũng thờ đúng cái của quư ấy. Bên cạnh am lại c̣n đặt hai cục đá tṛn, nhẵn, rất gợi h́nh, để cho chúng đi cùng bộ với dương vật. Anh Trần Chính giải thích Thần đạo trước hết là triết lư sống gắn bó với thiên nhiên, đồng thời sống cuộc sống hiện tại một cách đầy đủ, viên măn, do đó mà dương vật người đàn ông cũng được “thờ” như một kami (“thần” trong đạo Shinto), bởi v́, giống như thiên nhiên, nó là nguồn lực tự tái tạo và sung măn vô biên của sự sống. Chúng tôi thấy nhiều phụ nữ Nhật vào đây kính cẩn bái lạy, nâng niu h́nh tượng ấy như viên ngọc quư… Nghe nói hàng năm, kami dương vật được lau rửa sạch sẽ, đặt trên kiệu và di chuyển quanh thành phố, dân chúng đi theo nhảy múa ca hát như một ngày hội (giống như lễ vía thần ở làng quê Việt Nam ta).
Ở xứ Nhật này, đàn ông là số một, chẵng bù với bên Pháp chúng tôi, đàn bà mới là số một, sau đến chó là số hai, rồi mới đến đàn ông số ba!
Hakone là tên của một thị trấn trong tỉnh Kanagawa, đồng thời là tên của khu Lâm viên Quốc gia (Fuji-Hakone-Izu), hay c̣n gọi là vùng Phú Sĩ sơn (Fuji-san). Do có núi lửa Phú Sĩ, có hồ Ashi, có nhiều suối nước nóng onsen (ôn tuyền), và là cửa ngơ đi vào thủ đô Tokyo, vùng Hakone đặc biệt hấp dẫn đối với khách du-lịch bốn mùa đến từ khắp mọi nơi. Sau Kyoto, đây cũng là nơi du-khách không thể không không dừng chân.

Thăm Lâm viên Quốc gia Hakone, chúng tôi có dịp đi chơi tàu khoảng 30 phút trên hồ Ashi. Nhiều tàu chở du-khách được thiết kế như loại thuyền buồm cổ ở Châu Âu. Đứng trên boong tàu, nh́n cảnh sắc trên mặt hồ và núi non chung quanh hồ mới ngoạn mục làm sao: gần bờ có chiếc cổng torii sơn son đỏ tía đứng ngâm chân dưới nước, xa hơn là ngôi đền Thần đạo ẩn hiện sau hàng cây trên sườn núi, và xa hơn nữa là ngọn núi Phú Sĩ hiện ra sừng sững tuyệt đẹp, phủ tuyết trắng, trông như cảnh vẹ trong những bức tranh mộc bản nổi tiếng của hai nhà danh họa thế kỷ thứ 19 Hokusai và Hiroshige.
Nói về chiếc cổng đỏ torii, chúng tôi nh́n thấy cổng này rất nhiều lần trên hành tŕnh du-lịch Nhật Bản: mỗi lần đi thăm chùa hay đi viếng đền Thần đạo đều nh́n thấy nó. Cổng này, làm bằng gỗ hay bằng đá hoặc xi-măng, gồm có hai trụ chính dựng thẳng đứng, nối với nhau ở phía trên bằng hai thanh ngang nằm song song, tạo thành chữ hán “Thiên” có nghĩa là “Trời”. Nhờ chuyến du-lịch Nhật Bản này mà tôi nẩy ra một ư hay, lúc trở về Pháp tôi đă cho dựng một chiếc cổng torii nhỏ trong khu vườn Nhật ở nhà chúng tôi, ngay cạnh hồ cá, theo h́nh ảnh mà chúng tôi đă nh́n thấy trên hồ Ashi.
Sau khi đi chơi tàu trên hồ Ashi, hệ thống ropeway với những xe cable car kéo chúng tôi lên sườn núi cao và thả chúng tôi xuống một trạm, nơi nh́n thấy cả vùng thung lũng Owakudani, nơi một lần nữa lại có thể nh́n thấy núi Phú Sĩ, và là nơi nổi tiếng với những suối nước nóng có chất lưu huỳnh (sulfur). Tại đây du-khách được khuyên nên leo núi đến chỗ suối nước nóng để mua những quả “trứng đen”, là trứng gà luộc trong suối lưu huỳnh nóng từ 80 đến 100 độ C, vỏ trở màu đen, bóc ra chấm muối tiêu ăn rất béo bùi. Người Nhật tin rằng cứ ăn xong một quả trứng đen là thọ thêm 7 năm! Leo núi đi về mất khoảng nửa giờ, do đó mà một vài bác lớn tuổi trong đoàn đành ở lại phía dưới và mua trứng đen bán trong các shop để ăn, lấy thêm tuổi thọ để c̣n đi chơi năm châu bốn bể!
Đứng trên sướn núi cao, nh́n xuống thấy khói sương mù mịt, nh́n đằng trước th́ thấy núi Phú Sĩ trong nắng sắp tắt buổi chiều, chụp được tấm ảnh thật là ấn tượng! Có điều hơi ngán là không biết khi nào ngọn núi lửa ấy hoạt động trở lại đây, thôi th́ cứ mau mau xuống núi cho chắc ăn!
Thị trấn Hakone cùng những thị trấn khác trong khu Lâm viên Quốc gia với rất nhiều khách sạn xây dựng trên các sườn núi, là điểm du-lịch và cũng là trung tâm tắm nước nóng thiên nhiên (ôn tuyền – onsen) rất được người bản địa ưa chuộng từ thế kỷ 14.
Chúng tôi đi qua vùng này và ở lại một đêm tại một khách sạn kiểu ryokan (lữ quán). Tầng dưới của khách sạn có bồn nước nóng onsen. Đêm hôm ấy là một đêm thật đăc biệt v́ tất cả mọi người trong đoàn đều mặc áo yukata (kimono mặc trong nhà) và ăn tối trong một pḥng ăn lớn kiểu Nhật, ngồi dưới đất có trải chiếu, xếp chân ra phía sau. Chúng tôi ăn một bữa ăn tối thuần túy Nhật, tŕnh bày rất đẹp mắt với chén đĩa nhiều màu sắc, nhiều món ăn nhưng mỗi thứ chỉ một chút thôi. Mỗi người có một phần ăn riêng biệt, gồm cá sống, tôm chiên, vài cái tàu hủ lạnh màu trắng, chút rau cỏ, một cái lẩu canh nhỏ để trên một ḷ lửa có con tôm đỏ hoe…
Sau bữa ăn, cả đoàn và từng nhóm từng đôi chụp h́nh kỷ niệm ngay trong pḥng ăn với những chiếc áo yukata. Sau đó, một số đông về pḥng và chuẩn bị khăn lớn khăn nhỏ để đi tắm nước nóng onsen ở tầng dưới cùng. Người Việt ḿnh, nhất là mấy chị em gái, ít thích kiểu tắm này v́ vào đây giống như vào các hồ nước nóng ở Tháp Bà, Nha trang, nhưng không thoải mái bằng v́ phải tŕnh của quư cho cả làng xem, nghĩa là cứ phải ở truồng mới tắm được, kể cũng là lạ… Tôi ṭ ṃ, thôi th́ đă đến đây rồi cũng ráng tắm thử xem. Chờ sáng sớm hôm sau, biết chắc có ít người xuống hồ onsen, tôi liều mạng đi tắm một cái cho biết. Th́ cũng là nước nóng thiên nhiên như ở nhiều nơi khác trên thế giới thôi, vậy mà ở đây lại bắt thằng nhỏ phải… “tout nu” (cởi truồng)!
Pḥng khách sạn ở đây vừa có giường kiểu Tây vừa có cả tấm nệm trải trên mặt đất để ngủ như trong nhà người Nhật. Đêm hôm ấy ở Hakone, vợ chồng tôi nằm dưới đất có trải chiếu tatami, th́ cũng ṭ ṃ cho biết, chứ vừa đặt lưng xuống là đă ngáy kḥ kḥ v́ đi chơi thăm thú cả ngày, mệt đừ rồi!
Sáng hôm sau thức dậy, sau khi ăn sáng cũng kiểu Nhật, đoàn chúng tôi từ giă khách sạn lên đường đi Kamakura, rồi đi thủ đô Tokyo. Trên đường, chúng tôi ghé vào Đài Quan Sát để t́m hiểu về núi Phú Sĩ, biểu tượng linh thiêng theo Thần đạo của nước Nhật. Chúng tôi thật là may mắn được nh́n thấy ngọn núi lửa uy nghi này nhiều lần trên hành tŕnh từ Kyoto đi Tokyo, v́ thật ra nghe nói trong một năm người ta chỉ có cơ hội được nh́n thấy núi Phú Sĩ thật rơ từ chân lên đến đỉnh khoảng 25 ngày thôi. Phải nói là đẹp thật, chỉ một ḥn núi thôi mà mọi người ai nấy cũng chụp cả mấy chục tấm ảnh không chán!
Núi lửa Phú Sĩ cao 3776 mét, đă tạm ngừng hoạt động từ năm 1707. Ngọn núi này là nơi hành hương thiêng liêng của người Nhật theo Thần đạo, hàng năm người ta vẫn tổ chức leo núi cho những người hành hương vào mùa hè. Có 5 cái hồ nằm chung quanh chân núi, v́ vậy mà du-khách ghé đây rất là đông, phần lớn là dân Nhật và dân Á châu, trong đó có đoàn chúng tôi, chứ ít thấy người da trắng, ngoại trừ hai lần chúng tôi gặp các đoàn tour người Pháp. Từ thủ đô Tokyo, hàng ngày có xe lửa siêu tốc đưa du-khách đi chơi vùng núi Phú Sĩ rất thịnh hành, bởi v́ từ Tokyo đến đây không xa lắm (vào những ngày trời quang mây tạnh từ Tokyo người ta có thể nh́n thấy ngọn núi từ xa).

KAMAKURA
Là thành phố biển xinh đẹp nằm bên cạnh vịnh Sagami, chỉ cách thủ đô Tokyo 50 km, với dân số ít ỏi khoảng 170,000 dân, Kamakura từng là trung tâm quyền lực của chính quyền quân phiệt đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Thời kỳ quan trọng này kéo dài gần 150 năm trước khi chính quyền Kamakura của các Sứ quân Minamoto sụp đổ vào năm 1333. Ngoài ra, Kamakura c̣n thu hút khách du-lịch v́ đây là trung tâm văn hóa lớn của Phật giáo ở phía đông Nhật Bản. Mặc dầu nước Nhật là nước văn minh tiên tiến về nhiều mặt, nhưng người Nhật vẫn rất chuộng lối sống theo tinh thần đạo Shinto và đạo Phật, ở Nhật đi đâu cũng nh́n thấy đền và chùa, riêng chùa chiền th́ nhiều không biết bao nhiêu mà nói.
Chúng tôi ghé Kamakura vào buổi chiều, và đến viếng chùa Kotoku-in, nơi chúng tôi được chiêm ngắm pho tượng Đại Phật (Daibutsu) bằng đồng đen ngồi ngoài trời. Pho tượng khổng lồ cao 13 mét và nặng hơn 90 tấn, được xem là tượng Phật bằng đồng ngồi ngoài trời lớn nhất thế giới, và đứng hàng thứ nh́ ở Nhật sau tượng Phật ngồi trong chùa Đông Đại ở Nara. Anh Trần Chính giải thích tượng Phật này là đức A Di Đà (Amida) của phái Tịnh Độ (Jodo).
Đúc vào năm 1252, lúc đầu tượng Đại Phật được thếp vàng và đặt ngồi bên trong ngôi chánh điện của chùa Kotoku-in. Trong những thế kỷ sau đó, ngôi chùa bị sóng thần (tsunami) 3 lần tàn phá, lần nào chùa cũng bị trận nước lớn đánh tan và cuốn phăng ra biển, duy có tượng Phật vẫn ngồi tĩnh tọa và không hề hấn ǵ. Sau trận sóng thần cuối cùng tàn phá Kamakura vào cuối thế kỷ thứ 15, người ta quyết định không xây lại chánh điện nữa, và từ đó tượng Đại Phật ngồi luôn ngoài trời cho đến bây giờ. Chúng tôi để ư thấy rất nhiều hoa anh đào vẫn c̣n đang nở rộ trong khuôn viên của chùa, chung quanh tượng Phật.

YOKOHAMA
Là thành phố cảng lớn nhất ở Nhật và đô thị đông dân thứ hai sau Tokyo, với 3,6 triệu dân, Yokohama là cửa ngơ kinh tế lớn nhất ở miền đông nước Nhật. Trên đường từ Kamakura đi Tokyo, chúng tôi ghé thăm Phố Tàu nổi tiếng của Yokohama. Kiều dân Trung Quốc sống tập trung đông nhất ở Yokohama, phần lớn sinh hoạt về thương mại. Phố Tàu ở đây thuộc vào loại sạch sẽ nhất thế giới, chiếm nhiều con đường ngang dọc, phố chính đầy dăy tiệm ăn Tàu, thôi th́ heo quay ngỗng quay thịt xá xíu bánh bao xíu mại nóng hổi đủ cả… Ban đêm ở đây rất vui nhộn, cổng chính như cổng tam quan có mái cong thắp đèn sáng rực lộng lẫy. Chúng tôi chỉ ghé qua vào lúc chiều tối để mọi người đi dạo phố ban đêm và để biết thế nào là Phố Tàu trên đất Nhật!

TOKYO
Sau khi lật đổ chính quyền của các sứ quân Tokugawa vào năm 1868, Thiên Hoàng Minh Trị (Meiji) đă quyết định dời đô từ Kyoto ở miền tây về Edo ở miền đông và đổi tên thành Tokyo.
Với hơn 12 triệu dân, Tokyo là thủ đô của Nhật Bản, nơi đặt trụ sở của Chính phủ và có Hoàng Cung của Thiên Hoàng và Hoàng tộc Nhật. Tokyo c̣n là siêu đô thị lớn nhất và đông dân nhất, kỹ nghệ tiên tiến nhất, kiến trúc hiện đại nhất, phố xá đông vui sạch sẽ nhất, cái ǵ cũng nhất…
Cả ngày chúng tôi chụp h́nh không chán cảnh tượng đám đông khách bộ hành lũ lượt băng qua các ngă tư đường mỗi khi đèn xanh bật lên. Người đông lắm, trông giống như cả đàn kiến đông nghịt kéo nhau qua đường, nhưng người ở Tokyo rất trật tự, không hề thấy cảnh chen lấn lộn xộn. Phải nói đây là cảnh tượng rất đặc biệt, có tận mắt nh́n thấy mới tin là sự thật. Vào giờ tan sở th́ thôi khỏi nói, nhất là ở các trạm xe lửa và xe điện ngầm, phải dùng các nhân viên đặc biệt để đẩy và ép hành khách vào các toa xe th́ cửa mới đóng và xe mới chạy được.
Chúng tôi có đi một đoạn bằng xe lửa siêu tốc (bullet train), do lúc ấy không phải giờ cao điểm nên hành khách cũng không đông lắm, nhưng một số người trong đoàn không may vào lầm toa dành cho người hút thuốc lá, họ hút thuốc đến nghẹt thở luôn, cũng may mà ông tour guide kịp hướng dẫn chúng tôi chạy qua toa kế bên nên thoát nạn! Cũng tại ở Tokyo không nh́n thấy bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh, mà chúng tôi th́ nào có đọc được chữ Nhật… Sống ở cái xứ đất chật người đông này quả cũng không thoải mái cho lắm…
Ghé thăm Tokyo, hầu hết mọi đoàn du-lịch đều đến chụp h́nh kỷ niệm trước cánh cổng lớn của Hoàng Cung, dù chỉ được phép đứng ở đấy mà nh́n vào. Từ băi đậu xe, chúng tôi phải đi bộ băng qua một quảng trường lớn trông giống như một công viên có trồng rất nhiều thông, tùng và bách. Những cây tùng trồng ở đây được cắt tỉa cẩn thận và tạo dáng rất mỹ thuật. Cũng trong công viên này chúng tôi nh́n thấy tượng đài của một chiến binh samurai ngồi trên lưng ngựa, tay cầm 2 thanh kiếm, một dài một ngắn. Joe, ông tour guide người Nhật, kể rằng chính tại nơi này, vào những ngày cuối của cuộc Đệ nhị Thế Chiến, khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, có hơn 600 sĩ quan và binh lính Nhật đă đến quỳ trước tượng đài này, quay mặt về phía Hoàng Cung để bày tỏ ḷng trung thành với Nhật Hoàng, sau đó mổ bụng (harakiri) để tự sát tập thể chứ nhất định không đầu hàng! Bây giờ th́ tôi hiểu tại sao người chiến binh samurai luôn có hai thanh kiếm bên người: cây kiếm dài để đánh kẻ thù, và cây kiếm ngắn để mổ bụng tự sát khi thua trận. Tinh thần ấy mới thật là anh hùng!
Ông tour guide người Nhật của đoàn chúng tôi xuất thân từ một gia đ́nh thuộc giai cấp chiến binh (samurai) ngày xưa, và có thể xem ông là một trong những người samurai cuối cùng. Tại Hakone, trong bữa cơm tối, ông đă tặng chúng tôi một pha tŕnh diễn kiếm đạo (kendo) tuyệt vời. Ông mặc y phục cổ truyền, dùng thanh kiếm dài chặt xuống một trái táo để trên bụng một người trong đoàn t́nh nguyện nằm… thí mạng (!). Chỉ trong chớp mắt, trái táo bị chặt đứt làm nhiều miếng rất ngọt, văng ra tứ phía, vậy mà anh Tùng (người nằm) không hề hấn ǵ, đến chiếc áo mặc trên người cũng không hề bị lưỡi kiếm chạm vào. Cả đoàn được một phen hú vía! Hoan hô sự can đảm của anh bạn ở San José, California, mà chúng tôi mới quen trong chuyến đi này!
Cũng cần biết rằng giai cấp samurai hay bushido (vơ sĩ đạo) đă bắt đầu xuất hiện trong lịch sử Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 9 khi triều đ́nh của Thiên Hoàng cần những người mạnh khỏe, trung tín, và có vũ trang để bảo vệ cho ḿnh trước nguy cơ của những cuộc nội chiến.
Đến thăm phần ngoại vi của Hoàng Cung ở Tokyo, dù chúng tôi không nh́n thấy ǵ nhiều ngoài một chiếc cổng lớn có những người lính gác, thành cao và hào nuớc sâu bao quanh một khuôn viên rộng lớn trong đó du-khách chỉ thấy từ xa góc nhỏ của một lâu đài (là lâu đài của gịng họ Tokugawa vào thời kỳ Edo theo lời kể của anh Trần Chính). Du-khách thích chụp h́nh kỷ niệm trước Hoàng Cung v́ nhiều người ngạc nhiên thích thú khi biết rằng dân Nhật vẫn sùng bái Vua của họ vào thời đại nguyên tử này…
Sau đó chúng tôi đi viếng chùa Sensoji, ngôi chùa Phật giáo được xem là xưa nhất tại Tokyo (bởi do thành phố này đă bị bom Mỹ tàn phá hơn 80 phần trăm vào cuối cuộc Đệ nhị Thế Chiến). Lại đi viếng chùa nữa, v́ đền chùa là một phần trong văn hóa Nhật mà, chứ thú thật riêng đối với cá nhân tôi th́ tôi đă ngán chùa chiền lắm rồi!
Nh́n chung, thủ đô Tokyo là một đô thị hiện đại, do thành phố này đă được xây dựng lại gần như mới sau khi Nhật thua trận năm 1945, tôi có cảm tưởng nó không khác ǵ các thành phố lớn ở Mỹ, có nhiều nhà chọc trời, đại lộ rộng lớn…
Chúng tôi c̣n ghé thăm và tự do mua sắm trong khu phố Akihabara, chuyên bán đủ các loại hàng điện tử Made in Japan. Vào khu phố này để nh́n thấy nước Nhật của khoa học kỹ thuật siêu hiện đại với hành hóa cũng siêu hiện đại phục vụ con người dân.

Lúc chiều tối, anh Trần Chính và ông tour guide đưa chúng tôi đi thăm ṭa Tháp Đôi (Twin Towers) nổi tiếng ở Tokyo, nằm trong quận Shinjuku. Hiện phần lớn ṭa nhà này được dùng làm văn pḥng của các bộ trong chính phủ Nhật. Chúng tôi dùng thang máy chạy êm và nhanh kinh khủng để lên tới tận đỉnh của ṭa nhà chọc trời. Đứng trên tầng cao nhất có tường bao quanh bằng kính, chúng tôi ngắm thủ đô Tokyo về đêm chan hoa hàng triệu ánh đèn đủ màu... Tokyo by night đẹp quá! Nếu có th́ giờ, chắc cũng đáng để đánh một ṿng lớn bằng xe hơi.
Kiến trúc ở Tokyo rất hiện đại và đa dạng, nhà chọc trời đủ dáng đủ kiểu, cùng với các đường xe cao tốc xây trên trụ bê-tông chạy ngang dọc, tất cả đều được xây dựng với kỹ thuật cao, dự trù có thể chống những trân động đất mạnh đến 9 chấm. Đến nay, tuy động đất thường hay xẩy ra ở Tokyo nhưng chỉ dưới 7 chấm, nên các công tŕnh xây dựng vẫn c̣n đứng vững.
Một trong những h́nh ảnh tiêu biểu cho nước Nhật siêu hiện đại, ngoài các mặt hàng điện tử, là con tàu siêu tốc (bullet trains) đi lại trên cả nước với vận tốc c̣n nhanh hơn cả tàu TGV ở Pháp. C̣n h́nh ảnh tiêu biểu cho thủ đô Tokyo là phố Ginza, khu phố lớn vô cùng đẹp và sang trọng làm chóa mắt cả khách du-lịch lẫn người mua sắm, ngoài ra c̣n nhiều khu phố khác cũng lớn và sầm uất không kém như Shinjuku, Shibuya, Ikebukuro… Ở phố nào cũng thấy toàn người là người…
Ngày thứ hai ở Tokyo, chúng tôi đi viếng Minh Trị Thần Cung (Meiji Jingu), ngôi đền Thần đạo lớn và tôn nghiêm nhất ở Tokyo, cũng là nơi phối thờ Thiên Hoàng Minh Trị, người đă có công canh tân nước Nhật vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, cùng Hoàng hậu Shoken. Ngay trước điện thờ chính chúng tôi nh́n thấy hai cây bách đại thụ già 1700 tuổi, thân gỗ to và xù x́.
Người Nhật có truyền thống tổ chức lễ cưới trong các đền Thần đạo và theo nghi thức Shinto, có lẽ v́ vậy mà chỉ trong ṿng hơn một tiếng đồng hồ ở đây chúng tôi được chứng kiến đến 2 lễ cưới cử hành liên tiếp nhau. Mỗi đám cưới có khoảng 20 người bao gồm cả nhà trai và nhà gái, nối đuôi nhau đi diễu hành từ pḥng làm lễ cưới qua vuông sân lớn để vào trong điện thờ vua Minh Trị. Dẫn đầu là vị đạo sư chủ tŕ nghi lễ cùng các thị giả (temple maids), sau đó là đôi uyên ương và gia quyến cùng thân hữu, tất cả đều ăn mặc theo lối cổ truyền với màu sắc lộng lẫy. Họ bước đi im lặng, nghiêm trang, không thấy cảnh mang khay trầu, rượu và mâm quả, heo quay, bánh trái như phong tục người Việt ḿnh.
Chúng tôi để ư thấy cô dâu mặc áo kimono nhiều lớp, lớp ngoài cùng màu trắng, đầu đội mũ lụa rộng vành, tay không thấy ôm bó hoa. Chú rể th́ mặc kimono đại lễ với áo choàng đen bên ngoài, quần thụng như cái váy bằng lụa sọc đen trắng, chân mang vớ và dép quai, tay cầm quạt, đi cưới vợ mà mặt mày nghiêm trang thấy sợ, chẳng thấy cười ǵ cả…
Chúng tôi c̣n được viếng một ngôi đền Thần đạo khác, ở gần trung tâm thành phố, nơi đây chúng tôi có dịp tận mắt nh́n thấy rất nhiều vơ sĩ đô vật sumo. Tất cả bọn họ đều cao lớn gấp hai người thường, ở trần đóng khố, tóc để dài bới cao và đi chân đất. Họ đến đây để dự những cuộc thi đấu sumo vào mùa xuân theo truyền thống. Sumo là môn thể thao đặc biệt dành riêng cho người Nhật, tương truyền đă có từ hai ngàn năm nay. Mỗi trận thi đấu rất ngắn, chỉ vài giây là đă rơ thắng bại. Người thua là người bị đối thủ đẩy ra khỏi ṿng tṛn vẽ dưới đất hoặc để bất cứ phần nào trong thân thể của ḿnh chạm mặt đất, ngoại trừ hai ḷng bàn chân. Trước mỗi trận đấu, hai vơ sĩ sumo lấy muối rải vào bên trong ṿng tṛn để thanh tẩy, c̣n trọng tài th́ đổ rượu saké vào bày tỏ sự biết ơn. Ngoài sumo, người Nhật c̣n là cha đẻ của nhiều môn vơ thuật thịnh hành khách như kendo (kiếm đạo), judo (nhu đạo), karate-do (không thủ đạo), aikido (hiệp khí đạo) v.v…
Đến Nhật vào mùa hoa anh đào không thể không tham dự vào lễ hội thưởng hoa của người Nhật, gọi là hanami. Riêng ở Tokyo, người dân thủ đô thường vào các công viên lớn và nhỏ trong thành phố để thưởng hoa, như công viên Ueno, Shinjuku, Sumida, hay Inokashira. Hanami là truyền thống của gia đ́nh và bạn bè hẹn nhau “picnic” ở những nơi công cộng vào buổi trưa hay buổi tối, dưới những tàng cây anh đào đang nở hoa, ăn các món ăn cổ truyền hoặc các món ăn b́nh thường bới sẵn trong hộp bento, uống rượu sake, cùng ngồi ngắm hoa và hàn huyên với nhau.
Anh Trần Chính và ông tour guide người Nhật cũng tổ chức cho đoàn chúng tôi ăn trưa ngoài trời trong công viên Ueno ở Tokyo để chúng tôi được thưởng thức và ḥa ḿnh vào bầu không khí lễ hội đặc biệt ấy. Chúng tôi cùng vào một siêu thị thực phẩm ở tầng hầm của thương xá Takashimaya và được tự do lựa chọn các món ăn cũng như thức uống cho bữa ăn trưa ngoài trời. Mỗi phần ăn với thức uống đầy đủ cho một người vào khoảng 1500 yens, lớn hơn khẩu phần bento của người Nhật. Sau đó chúng tôi đến công viên Ueno, t́m một chỗ có bóng râm và cùng ngồi quay quần với nhau, vừa ăn vừa chuyện văn. Sau đó chúng tôi chia thành nhiều nhóm nhỏ và tản đi, người ngắm hoa, kẻ chụp h́nh, trà trộn vào ḍng người đông đúc của lễ hội hanami. Trong công viên Ueno, hoa anh đào vẫn c̣n đang nở rộ. Chúng tôi nhận thấy người Nhật ở Tokyo vào đây đông ơi là đông, bạn bè có, gia đ́nh có, đồng nghiệp cùng sở làm cũng có, nơi này họ đờn địch ca hát, chỗ kia họ nhẩy nhót, phần đông thuê trước chỗ ngồi picnic trong công viên cho cả nhóm, và họ lót chỗ ngồi bằng những tấm bạt lớn bằng plastic màu xanh dương. Nh́n họ vui thật là vui…
Sau đó chúng tôi có vài ba tiếng để tự do đi chơi và mua sắm thoải mái trong khu phố Ginza vô cùng sang trọng. Phố này giống như đại lộ Champs Elysées ở Paris. Tha hồ đi ngắm tủ kính của các nhăn hiệu đắt tiền như Louis Vuitton, Gucci, Chanel, Mikimoto v.v…
Sau gần 10 ngày đi du ngoạn vừa ngắm cảnh vừa t́m hiểu lịch sử và văn hóa ở Nhật Bản cùng đoàn du-lịch Voyages Saigon từ Hoa Kỳ, chúng tôi chào từ biệt và chia tay mọi người tại phi trường Narita, Tokyo, sau đó hai vợ chồng chúng tôi đáp máy bay ghé qua Đại Hàn vài hôm trước khi trở lại nước Pháp.
Hơn hai tuần du-lịch vui vẻ, lại học hỏi được bao điều mới lạ, rồi cũng đến lúc phải trở về nhà.
Từ biệt Nhật Bản! Sayonara, Japan! Bye Bye, với nhiều kỷ niệm sẽ c̣n nhớ măi…

Juillet 2009
(Aix-en-Provence)
VƠ VĂN HOÀNG

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved