Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

THƠ, ĐẠO, ĐỜI, ba khía cạnh cộng hưởng gắn bó trong tâm thức Nhật Bản. Và đấy cũng là tinh thần cổ-điển trong văn hóa Nhật. Chúng ta hiểu được người Nhật hay không hiểu ǵ cả về họ chính là ở chỗ này.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và đặc biệt những khách hàng đă và sẽ đi thăm nước Nhật với Voyages Saigon bài viết về Lương Khoan (Ryokan, 1758-1831) của Vũ Hoàng Thư, một khách hàng quư mến của chúng tôi.
Lương Khoan, một nhà thơ? một thiền sư? một thức giả?
“ai bảo thơ ta lại là thơ
thơ này nào đâu phải là thơ
khi người hiểu được cho điều ấy
cùng người ta sẽ luận về thơ”

Trong trước tác ngắn này (khảo luận hay tùy bút?) không chỉ có một khía cạnh thú vị trong thơ-đạo-đời của Lương Khoan, mà c̣n có cả chất tự-cảm – cái lyrism rất nhẹ nhàng, vi tế của tác giả Vũ Hoàng Thư.
SALADE EsPRESSO.
(Tháng 01, 2008)


RYOKAN – NHỮNG BƯỚC CHÂN SƯƠNG

       

Who says my poems are poems?
My poems are not poems.
When you know that my poems are not poems,
Then we can speak of poetry!

Ryokan (1758-1831)

Sương về bên lũng núi trắng ngát đường quanh. Mù là áo của sương, phơn phớt đợi tay ôm vào ḷng mát lụa. Hơi se lạnh làm làn da săn, tai không nghe ǵ khác ngoài thanh âm chập chùng của từng làn sương mỏng phủ xuống núi đồi. Tiếng chuông sớm từ chùa trên vọng xa. Trùng trùng âm biển. Vang nỗi sóng ngàn. Hải triều âm vọng giữa ḷng sâu. Khoan khoái hít vào chậm răi, tận đáy phổi hơi sương chen lẫn mùi ẩm mốc lá khô, thu về miên man trong từng hơi thở. Đầu thấy loáng, óc choáng ngợp ảnh h́nh không thu nhận kịp, kư ức nhập trùng hiện tại, người xóa tan tên quá khứ. Biên giới mờ dần. Mờ như sương. Mờ có thể v́ thị giác giới hạn, mờ v́ đôi mắt khép kín đấy thôi, chứ sương vẫn long lanh trắng hạt châu. Sương ghé về lá, có chiếc nhàu vàng ôm lấy sương rồi lịm xuống đất thu. Đôi khi sương đáp vào ngọn sen, tàng lục thoa phấn như trải thảm đón mời. Sương bồng bềnh người trên phấn. Phấn nâng sương đùa cợt đến cuối tàng. Trong một phút giây bất chợt, thân rơi tơm xuống, sương về lại với nước. Chỉ c̣n một làn hơi mỏng thấp thoáng mặt ao. Thiền sư nh́n thấy thế bảo, ừ kiếp người như sương. Sư vận dụng chân khí, điều hợp hơi thở rồi buông dăm bảy lời sương, Ni cô nghe thấy thơ sương thắm thiết, gom góp thành tập để lại cho đời sau. Sư mỉm cười, giơ tay bắt lấy sương rồi nhẩn nha nhỏ giọt: Ai bảo thơ ta là thơ, chỉ khi quên đi đó là thơ rồi ḿnh mới cùng nhau nói chuyện thơ. Đó là thứ ngôn ngữ của thiên tài, phủ nhận không nhằm phá hủy mà để thiết lập một ư nghĩa mới không dựa vào những bế tắc của hiện tại. Phủ định không có nghĩa là đề nghị "có một cái ǵ đó" hay "không có một cái ǵ đó" vào thay thế, v́ như vậy chỉ là phủ định tương đối. Làm như vậy chỉ là cơn phẫn nộ vặt vănh của Zarathrustra đi xuống núi sau khi tuyên ngôn giết Thượng Đế. Phải phủ nhận với hết tất cả sức b́nh sinh để đập vỡ ngay cả chính ḿnh. Đập phá đến tận cùng mọi ngọn ngành của ư thức để không c̣n CÓ, cũng không c̣n KHÔNG. “Này Kàsyapa, đó chính là tánh KHÔNG đoạn tận hết thảy mọi luận chấp” [1]. Ông Lăo Tử cỡi trâu về phương tây cũng nói nôm na rằng đạo khả đạo phi thường đạo... Thơ, đạo, đời, chỉ là danh xưng con người ôm lậm vào ḷng, chịu khó gỡ rối một nút thắt th́ ông Lăo sẽ vuốt râu cười ha hả, yên chí về tây phương, tay vỗ vào lưng trâu mà hát, danh khả danh phi thường danh... Thế th́ hăy quên hết thơ để nói về thơ, quên hết sương để nói về sương. Từ đó sương - cùng với thơ, về bên lá, nếu có rơi th́ cũng là chuyến trở về với đại thể. Không hư hao chẳng thêm bớt. Ni cô đạt ư, giật bấn thần hồn, khối sầu thiên thu vạn cổ vỡ vụn theo lời sương. Ba ngh́n thế giới rơi rớt rụng trong giây phút nhân duyên trùng phùng, Ni cô lẩm bẩm,

Có thật chăng là Thầy
Em đă gặp
Hay niềm hân hỉ
Vương vấn trong em
chỉ là cơn mơ?

(Was it really you I saw
Or is this joy
I still feel
only a dream?)

Teishin [2]

Sư trầm mặc, những cơn mộng đến rồi đi, người có giữ hay níu kéo, mở mắt ra hết thảy cũng chỉ là mộng. Có ǵ đâu mà bận ḷng, Sư an ủi,

Ở trần gian huyễn hoặc
Người lim dim mắt
Hư luận về mơ
Này Ni cứ mộng
Cho tràn mộng ước dâng

(In this dream world
We doze
And talk of dreams –
Dream, dream on,
As much as you wish)

Ryokan [2]

Đó là con đường sương. Một đoạn đường ngắn ngủi mà Ryokan cùng Ni cô Teishin chung lối ở cuối đời Sư. Ryokan xuất gia từ lúc thiếu thời, tu học với nhiều thiền viện danh tiếng thời bấy giờ ở Nhật trong nhiều năm. Đời sống thiền viện cuối cùng không giữ được Ryokan, một tâm hồn phóng khoáng, phải chứng kiến cảnh tu sĩ chạy chọt, đút lót để được cấp độ điệp chứng nhận rằng ḿnh đă “giác ngộ”. Chùa chiền trở thành nơi tranh giành thế lực và quyền lợi. Người ta quên rằng tự do tuyệt đối chỉ đạt được một khi họ chịu vứt bỏ cái bản ngă nhỏ nhoi của ḿnh. Loài người tội nghiệp kia, làm sao họ hiểu được thế nào là thơ, liệu họ có biết chăng thơ không là thơ mới là thơ đấy ru. Nhà sư thi sĩ Ryokan lang thang nhiều năm ở vùng Shikoku và Kyoto, sau lui về chốn núi Kugami sống cuộc đời giản dị, ngày ngày khất thực và đùa giỡn với trẻ con nơi làng cũ dưới chân núi. Năm 70 tuổi, Ryokan gặp ni cô Teishin, 28 tuổi, họ quyến luyến và trao đổi cùng nhau những vần thơ thơ mộng nhất trong suốt ba năm cho đến khi Sư viên tịch. Một cuộc đời không sở hữu ǵ ngoài một tâm hồn tự tại và ḷng biết ơn những ǵ giản dị nhất mà cuộc đời dâng hiến. Trên giường bệnh hấp hối Sư viết cho Teishin:

Di sản ta –
Sẽ là chi?
Hoa xuân thắm
Chim gáy hạ
Và phong đỏ
Của mùa thu...

(My legacy -
What will it be?
Flowers in spring,
The cuckoo in summer,
And the crimson maples
Of autumn...)
[2]

Thiên hạ bàn tán đă nhiều đến mối liên hệ giữa Ryokan và Teishin. Có cần thiết cho một tên gọi về sự giao tiếp giữa hai người? T́nh yêu? Ân ái? Hay sự giao thoa của hai tâm hồn cô đơn nhất trên cuộc đời gặp nhau qua mối nhân duyên kiều diễm. Mượn ngôn ngữ của Ryokan, ai bảo đó là t́nh yêu, khi t́nh yêu không phải là t́nh yêu th́ chúng ta chạm trán t́nh yêu.
Đường lên núi Kugami mây trắng thong dong. Sư học sự phơi phới từ mây và tánh đơn giản nơi lá. Chuyện kể một vị tướng quân cùng đoàn tùy tùng lên núi mời Sư về trụ tŕ ngôi chùa mới trong vùng nhưng Ryokan đang bận đi hái hoa ở xa. Vị tướng quân và tùy tùng kiên nhẫn đợi cho đến khi Sư về. Sau khi nghe lời mời, Ryokan bỏ giỏ hoa xuống, không nói một lời nào. Lẳng lặng Sư lấy bút viết một bài haiku và đưa cho vị tướng quân:

Gió góp cùng ta
Vừa bao lá rụng
Nhóm đủ bếp hồng

(The winds gives me
Enough fallen leaves
To make a fire)
[2]

Một lần khác, một tên trộm lẻn vào lều ăn cắp những đồ sở hữu vặt vănh của Ryokan. Vừa lúc đi về, nh́n thấy ánh trăng chiếu qua mành cửa, Ryokan viết:

Đạo chích bỏ quên
Vầng trăng
Lửng ở bên song

(Left behind by the thief -
The moon
In the window)
[2]

Sư ẩn ở Gogo-an an tĩnh giữa rừng thông, tùng già, mây, hoa dại và lá rừng. Trong chốn ấy, người ta dễ thành thi sĩ, nhưng thi sĩ trần gian vốn ưa thích đu dây giữa triền vực của lựa chọn hiện sinh mà lựa chọn nào cũng hiu hắt đoạn trường. Marilyn hay Brigitte, gái-lạ-thiên-thu-thánh-nữ-thấp-thoáng Adrienne hoặc ngh́n-thu-thuần-nhiên Sylvie phơ-phất như Bùi Giáng sống chết trong từng giây phút một đời? Đó là cuộc chơi bi thảm của chọn lựa nhị nguyên. Ryokan không thế. Mẫu đơn phơi phới đùa trước gió, Ryokan an nhiên nh́n. Vào hay không vào cuộc chơi thân thiết?

Chúng em mẫu đơn dại
Đang độ măn khai hoa
Khoe dáng lộng rộ ràng:
Quư quá sao mà hái
Quư quá sao không hái

(Wild peonies
Now at their peak
In glorious full bloom:
Too precious to pick
Too precious not to pick)
[2]

Hái hay không hái không c̣n là một sự lựa chọn. Thơ không c̣n ở chữ, nghĩa, vần, điệu, mà ở sự đối đáp với ư thức để đập vỡ ư tưởng. Hoa như là hoa, mẫu đơn như là mẫu đơn, hải đường như là hải đường, không thông qua trung gian nào cả. Như vậy thơ lắng đọng thành nguyên chất mà đồng thời cũng sống sượng công phá trong tâm thức cho nàng thơ mặc áo bước ra. Câu hỏi đặt ra không để trả lời v́ câu hỏi không cốt được trả lời. Đó là một công án. Công án khiến con người như đi trên đầu ngọn tre trăm đốt.

Tâm trạng ấy được ví như tâm trạng của người leo lên cây cao, miệng cắn vào một cành cây, hai tay buông thỏng giữa hư không, hai chơn không vịn được vào đâu hết. T́nh cờ dưới gốc cây có người hỏi vọng lên: “Ư của Tổ Sư qua Tàu là ǵ?”. Người trên cây không trả lời th́ không được mà trả lời th́ rơi chết hốt xương (Huệ Khai – Vô môn quan).[3]

Đỉnh Kugami muôn đời sương phủ trước cũng như sau Ryokan Taigu. Giọt sương ghé qua tàng sen không ghi lại dấu, có c̣n chăng là những lời thơ sương. Những lời sương có thật, hay không bao giờ có thật? Có hề chi. Issa, nhà thơ cùng thời với Ryokan, không nói ǵ hết mà nói hết, tiếng nói vô ngôn dậy đất trời như tiếng đại hồng chung âm vang đến ngàn năm...

cơi này
là thế giới sương
đúng rồi…
nhưng…

(this world
is a dewdrop world
yes...
but...)

Issa (1763-1828) [4]

Tiếng nhưng… cuối cùng, sắt ngọt dao chém haiku, không thừa không thiếu, như đường kiếm bén samurai múa tung máu kẻ thù mà cũng là con trủy thủ nhọn hoắt xuyên suốt hara-kiri. Trong im lặng vô biên, hốt nhiên lục bát Việt trở về, êm đềm như giọt tṛn lăn nghiêng xuống rèm mi cong Teishin thế kỷ trước, lệ hay sương?

trần gian
một cơi mù sương
ừ thôi là vậy...
thế nhưng có là...

(Mùa Xuân 2007)
VŨ HOÀNG THƯ.

Chú thích:
[1] Kinh Bảo Tích – Ratnakùta Sùtra
[2] Dewdrops On A Lotus Leaf, Zen Poems of Ryokan, Translated by John Stevens (Shambhala, 2004)
[3] Linh Thoại Bồ Đề Dạt Ma, Trúc Thiên (Tư Tưởng, Đại Học Vạn Hạnh, 1968)
[4] Essential Haiku Volume 20, Robert Hass (The Ecco Press, 1994)

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved