Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Saint-Exupéry, với cuộc đời tương đối ngắn ngủi, là một nhà văn mà tên tuổi và văn chương đă vượt ra ngoài biên giới của nước Pháp. Sự biến mất một cách đột ngột, cùng với tác phẩm “Le petit prince” (“Hoàng tử bé”) từ lâu đă biến ông trở thành một huyền thoại.
Sau khi đọc bài "Saint-Exupéry và Huyền thoại Hoàng tử bé" của Mai Kim Ngọc do tác giả e-mail cho chúng tôi, chúng tôi đă xin phép ông cho đăng bài này trên trang web của Voyages Saigon, và ông hỏi lại “có chắc nội dung của nó phù hợp với trang SALADE EsPRESSO không?”. Chúng tôi tin rằng có.
SALADE EsPRESSO xin cảm ơn nhà văn Mai Kim Ngọc và xin giới thiệu bài viết dưới đây của ông, về “Hoàng tử bé” và huyền thoại Saint-Exupéry.
SALADE EsPRESSO.
(California, Nov 2005)
[H́nh đầu tiên trên tựa đề của bài viết là chân dung phác họa “Hoàng tử bé” bằng ch́ than do chính Saint-Exupéry vẽ tặng Sylvia Hamilton; H́nh ở cuối bài là tượng đài nhà văn Saint-Exupéry cùng với nhân vật Hoàng tử bé của ông]


SAINT-EXUPÉRY VÀ HUYỀN THOẠI HOÀNG TỬ BÉ...

(trích Du kư Lyon 1)

Mấy năm nay tôi thích viết du kư, về những chuyến đi nhờ đă hưu trí nên mỗi ngày mỗi dễ dàng hơn. Tôi cũng nghĩ du kư không cần bó buộc trong giới hạn núi sông muông thú cây cỏ khí hậu của xứ lạ quê người, mà c̣n là cơ hội nh́n lại cảnh trí nội tâm, trụ sở của những cảm nghĩ, những kinh nghiệm sống riêng cho đến khi về hưu mới có th́ giờ nghiêm túc nh́n lại. Nét riêng tư này hy vọng có khả năng làm du kư mặn mà hơn những sách chỉ dẫn du lịch phổ thông.
Trong một chuyến đi Pháp gần đây, tôi ghé Lyon để thăm một người bạn thân. Lần này tôi ngạc nhiên v́ xe lửa vừa tới ven đô, tôi đă gặp lại tên tuổi một nhân vật rất quen thuộc. Đó là cái tên ‘Saint-Exupéry’ trên những bảng chỉ đường về phi trường quốc tế của tỉnh. Saint-Exupéry sinh tại Lyon, thành danh đă lâu, vậy mà măi đến 29 tháng 6 năm 2000 nhân kỷ niệm 100 năm sinh nhật của ông, thành phố mới lấy tên ông đặt cho phi trường.
Lúc đổi tiền quan để tiêu dùng, tôi lại thấy tên và chân dung ông trên tờ giấy bạc 50 Euro. Tôi biết danh nhân khi chân dung được ghi trên tiền tệ, đơn vị càng nhỏ lại càng quan trọng. Ông Washington cha đẻ của nước Mỹ chỉ được ngự trị trên đồng 1 đô la. Phải có công cho cả Mỹ trắng lẫn Mỹ đen, và sự nghiệp giải phóng nô lệ lẫy lừng cho cả nhân loại, ông Lincoln mới được khắc chân dung trên đồng một xu bằng thau đỏ. Tuy nhiên, dù không được nằm trên xu hào, vinh dự của nhà văn Pháp qua tiền tệ như vậy xem ra đă là lớn lắm. Tôi nghĩ chưa có giấy bạc Mỹ in h́nh văn nhân Mark Twain hay Hemingway. Việt Nam ta tiền tệ mang chân dung Nguyễn Du hay Ôn Như Hầu hay cụ đồ Chiểu cũng chưa từng thấy.
Anh bạn tôi c̣n cho hay lúc sinh thời Saint-Exupéry đă được vô số huân chương, sách được phần thưởng Fémina rồi phần thưởng của Hàn Lâm Viện. Về sau, tên ông được khắc lên bảng đồng để chưng trong viện Panthéon cùng cách danh nhân Pháp khác. C̣n nữa, cảm hứng từ sách truyện của ông, những người hữu trách đă lấy tên Saint-Exupéry đặt cho hai thiên thể đang cùng trái đất xoay vần trong vũ trụ. Con người đă thành huyền thoại.
Chuyện tham quan một đô thị trở thành chuyện thăm lại một thế giới cũ của trí nhớ. Thế giới đó khoảng đầu thập niên sáu mươi thế kỷ trước, với những cuốn truyện của Saint-Exupéry đọc với tấm ḷng mới mẻ của người sinh viên. Vol de Nuit, Terre des Hommes, Le Petit Prince vân vân bỗng trở về cùng với những kinh nghiệm sống vào một giai đoạn đặc biệt của đất nước.

*****
Thuở ấy, tác phẩm của Saint-Exupéry rất thời thượng ở Việt Nam, dưới dạng sách bỏ túi. Nhờ một quỹ viện trợ của Pháp, sách đă có mặt tại các thư quán đường Lê Lợi và Tự Do, với giá rất thoải mái cho túi tiền sinh viên. Khác với tác phẩm của một số nhà văn thời thượng khác, sách của Saint-Ex (cách gọi đúng mốt) không những nổi tiếng mà c̣n rất hợp với sinh viên miền Nam Việt Nam bấy giờ. Chúng mở ra một chân trời mới, chân trời của không gian, từ đó có khoảng cách để nh́n lại trái đất với tất cả sự quư mến con người và cuộc sống. Riêng cho cảnh quê hương mới độc lập, sách truyện của Saint-Exupéry phục hồi cho chúng tôi một cái nh́n b́nh thường với người Pháp sau những tàn bạo chưa quên của đoàn quân viễn chinh, cái nh́n đă giúp chúng tôi có một liên hệ thầy tṛ đầm ấm với các giáo sư Pháp, lực lượng giáo huấn ṇng cốt của trường Y bấy giờ.
Chúng tôi thấy văn chương Saint-Exupéry đă đẹp lại cô đọng, với rất nhiều câu và đoạn chứa đựng những ẩn dụ hay sứ điệp thâm thúy. Chữ nghĩa của ông có trọng lượng lớn, để trong truyện đă đẹp mà lấy ra khỏi văn cảnh vẫn c̣n nhiều ư nghĩa. Một câu văn của ông được sinh viên chúng tôi bấy giờ thích lắm, tạm dịch ra như sau, “Yêu nhau không phải là nh́n nhau, mà là nh́n chung một hướng.” Thích măi rồi tưởng như của ḿnh, một hôm có bạn lấy ra sử dụng trên bàn ăn sinh viên trực bệnh viện Chợ Rẫy. Có cô sinh viên duới hai lớp đang ngồi cạnh anh nội trú, nên nh́n chung một hướng ra vùng trời xanh nơi cửa sổ. Câu văn nhờ hoàn cảnh trở thành lời tỏ t́nh ỡm ờ, và cô gái chớp mắt, xúc động, đỏ mặt. Có kẻ phá đám bảo nguyên văn là của Saint-Exupéry, làm anh nội trú từ lịch lăm chuyển sang lúng túng. Anh chỉ c̣n cách chống đỡ rằng lời hay ư đẹp, khi đă in thành sách truyện trở thành của chung, có mượn chút để tặng người thân cũng không sao. Vậy mà về sau cặp nam nữ ấy vẫn nên vợ nên chồng, câu chuyện sinh viên ngộ nghĩnh chứng tỏ sức mạnh của ngôn ngữ nhà văn. Saint-Exupéry c̣n nhiều câu rất thích hợp để trích dẫn khác, không biết đă gián tiếp hay trực tiếp xe duyên cho bao nhiêu cặp sinh viên Việt Nam bấy giờ. Tôi xin liệt kê một số nhỏ những câu ấy trong dạng đă chuyển thành Việt ngữ sau đây:
Một tác phẩm trở thành hoàn hảo không phải là khi không c̣n ǵ để thêm vào, mà là khi không c̣n ǵ để cắt bớt đi.’
‘Bí quyết của tôi rất giản dị, là phải lấy tâm mà nh́n. Mắt làm sao thấy được cốt lơi sự việc.’
‘Đống đá không c̣n là đống đá, khi có người nh́n đá mà thấy một đại giáo đường.’
‘Cái đẹp của sa mạc là đâu đấy nó giấu một cái giếng.’
‘Chở thư, chở tiếng nói của con người... Thế kỷ này cũng như mọi thế kỷ khác, thành quả lớn nhất là mang con người lại gần với con người.’
‘Hoan lạc chỉ có trong liên hệ giữa người với người.’
‘Duy lư tuyệt đối là sự suy đốn của tâm hồn.’
‘Tương lai không phải để tiên đoán suông, mà để biến nó thành hiện tại.’
‘Việc quan trọng khi đóng một chiếc tầu không phải là kiếm thợ kiếm gỗ, mà là biết mơ ước cái bao la của đại dương.’

Ít có nhà văn nào mà có nhiều câu nhiều chữ cô đọng như vậy. Chỉ có điều từ cũng như ư rồi cũng bị nhiều người mượn tạm, phần nào đă mất đi cái hấp dẫn ban đầu để biến dạng thành một thứ châm ngôn. C̣n nữa, những phi hành gia của Mỹ về sau vượt xa ra khỏi tầng khí quyển để lên đến mặt trăng, làm diện phiêu lưu mạo hiểm bằng chiếc máy bay chuồn chuồn của Saint-Exupéry trở thành tầm thường. Với những ưu tiên khác tiếp diễn trong cuộc sống sinh viên và y sĩ, tôi ít có dịp trở lại với Saint-Exupéry cho đến chuyến thăm bạn tại Lyon này.
Tối hôm ấy ở Lyon, lạ chỗ khó ngủ tôi lần ra thư viện chủ nhà t́m sách đọc. Nhớ lại tên nhà văn trên bảng chỉ đường về phi trường quốc tế và chân dung ông trên tờ giấy bạc 50 Euro, tôi t́m sách truyện của Saint-Exupéry. Tôi may mắn thấy ngay cuốn Le Petit Prince nguyên bản tiếng Pháp. Sách ngắn, rất thích hợp cho khoảng thời gian một hai giờ thức chờ sáng. Trong thanh tịnh của đêm, truyện bất ngờ gợi lên cho tôi những cảm nghĩ rất tha thiết và rất mới. Tôi không c̣n thấy những câu văn phương ngôn hóa của ông nhàm chán. Tôi cũng không c̣n bị ảnh hưởng tiêu cực của sự khác biệt về kích thước giữa những chuyến bay của ông và những chuyến bay của phi hành gia không gian hiện thời.
Trước tiên, với tâm sự của người xa quê hương, tôi có ngay cảm t́nh với truyện v́ nó liên hệ đến thủ phủ của miền Nam cũ, nơi tôi đă sống những năm sinh viên hạnh phúc tại trường Y. Thật vậy, Sài G̣n là cái đích của một chuyến bay kỷ lục tác giả muốn thực hiện từ Marseille, và đă thất bại nên phải đáp xuống Sahara. Kinh nghiệm hỏng máy bay giữa sa mạc này đuợc dùng làm bối cảnh cho Le Petit Prince. Nhưng lư do có lẽ c̣n quan trọng hơn là đêm mất ngủ đó tôi đă đọc với cái cảm quan đă trưởng thành mà ngày xưa không có. Sự tiếp thu khác với lần đầu, như chia sẻ sau đây với bạn đọc, cùng với những cảm nghĩ hiện tại.
Như đă nói, Le Petit Prince là chuyện người phi công lâm nạn phải đáp xuống sa mạc. Anh đang lúi húi sửa máy bay th́ một nhân vật lạ kỳ đến thăm. Đó là một hoàng tử bé con từ một tinh cầu khác lạc xuống. Qua những trao đổi, người phi công được biết hoàng tử đă phiêu du nhiều tinh cầu khác. Ngay tại trái đất, hoàng tử cũng đă tham quan nhiều nơi khác.
Hoàng tử đă thấy những cảnh đời eo sèo của những thế giới eo sèo. Đó là thế giới của một ông vua thèm uy quyền mà không có thần dân để thi thố uy quyền; hay của người nghiện rượu sầu muộn triền miên tiếp tục đi t́m niềm khuây khỏa trong những chai rượu sắp uống mà không bao giờ thấy; hay của nhân viên phụ trách đèn đường cô đơn tại một tinh cầu bé nhỏ, tối tối thắp lên những ngọn đèn đêm không rọi sáng cho ai để rồi chưa đầy giờ sau khi ngày trở lại phải hấp tấp đi tắt chúng; hay của nhân viên đạc điền tháng năm cặm cụi vẽ những tấm bản đồ không hữu dụng...
Hoàng tử lại cho người bạn phi công thấy tầm quan trọng của tâm hồn, khi nó trong sáng và biết thưởng thức cái đẹp. Hoàng tử hạnh phúc với tinh cầu của ḿnh, tuy nó không lớn ǵ hơn tinh cầu của mấy người khác, bằng chứng là nó quay 43 lần nhanh hơn quả đất. Thay v́ than thở, hoàng tử sung sướng v́ được ngắm mặt trời lặn 43 lần trong 24 tiếng đồng hồ. Nếu mặt trời lặn hẳn rồi mà vẫn cảm thấy chưa ngắm đủ, hoàng tử chỉ việc kéo ghế về phía tây để đuổi theo mà níu lấy cái đẹp của hoàng hôn...
Tinh cầu có mấy hỏa diệm sơn nhỏ, ngọn c̣n lửa th́ dùng làm bếp nấu bữa ăn sáng, ngọn đă tắt dùng làm ghế để ngồi chơi. Hoàng tử chấp nhận bổn phận và trách nhiệm của ḿnh trong tư thế chủ nhân ông tinh cầu, định kỳ đi thông núi lửa như người trần thế thông ống khói ḷ sưởi, sáng sáng quét dọn cho sạch những ǵ gió vũ trụ mang tới. Việc làm quan trọng, v́ những hạt giống bay tới như vậy có thể nguy hiểm và cần được xử lư trước khi tai họa xảy ra. Hạt Baobab nhỏ như đầu kim, nếu được phép sinh trưởng sẽ trở thành cây đại mộc khổng lồ thường thấy ở Phi Châu, và chiếm hết tất cả diện tích tinh cầu. Hoàng tử sung sướng khi được người phi công nhận vẽ cho con cừu để mang về nhà. Sau mấy con cừu vẽ ra đều không đúng ư hoàng tử, người phi công phải vẽ một thùng gỗ có lỗ thông hơi trong đựng một con cừu. V́ con vật nằm kín trong thùng, nên hoàng tử tùy nghi tưởng tượng để nó thành một con cừu hoàn toàn theo ư muốn. Cừu ăn cỏ và cây con, mang về tiểu hành tinh sẽ hữu dụng để xử lư những thảo mộc mới mọc lên từ những hạt giống bất ưng gió vũ trụ mang tới.
Tuy nhiên, có một hạt giống đặc biệt, đă mang lại hạnh phúc cũng như khốn khổ cho hoàng tử. Đó là hạt giống cây hồng, và cây hồng mọc lên cho một bông hồng duyên dáng. Hoa yểu điệu, nhơng nhẽo, đ̣i hỏi, như vai nữ của một mối t́nh tiểu thuyết. Buổi sáng, hoàng tử chưa kịp tưới th́ nó đă kêu khát. Có chút gió th́ nó kêu lạnh, lấy lồng kính che th́ nó kêu nóng. Luôn luôn nó than thở so b́, là ngày xưa trước khi tới với hoàng tử nó đâu có khổ đến thế. ‘Quê em th́...’ nó hay vừa khoe vừa than. Thường th́ nó không nói hết câu, v́ nhớ lại là hoàng tử biết rơ gốc gác của nó. Từ khi c̣n là cái nụ mới nhú, nó chỉ biết có tinh cầu này. Khi hạt giống bay tới, th́ nó chưa thành h́nh thể, thậm chí chưa có cả linh hồn. Rồi quên đi, nó lại sẵng sàng than thở so b́ trong một dịp khác...
Hoàng tử yêu bông hoa, và bông hoa yêu lại hoàng tử. Nhưng hai nguời như khắc khẩu khắc tính, những bất hoà liên tục xẩy ra. Và hoàng tử quyết định giă từ tinh cầu của ḿnh, bỏ lại bông hồng yêu dấu. Chính bông hồng cũng thấy chia tay là tốt cho cuộc t́nh lúc ấy. Nó giục hoàng tử lên đường. Ai che chở cho em khi vắng anh, hoàng tử lo lắng. Nó trấn an bạn t́nh rằng anh đi đi, em biết tự vệ, và nó khoe bốn cái gai xinh xắn của nó. Câu chuyện nhớ lại trên đường phiêu du c̣n làm hoàng tử xót xa. Tới trái đất hoàng tử vẫn không yên tâm, sợ một ngày kia cọp tới ăn mất bông hồng. Khi được trấn an rằng cọp không ăn cỏ, hoàng tử bớt lo nhưng lại bực ḿnh v́ người bạn mới quen đă khi dễ bông hồng, gọi nó là cỏ. Hoàng tử thương nhớ bông hồng. Từ sa mạc đêm nh́n lên bầu trời, hoàng tử ấm ḷng v́ biết rằng trong những thiên thể vô vàn ấy, có tinh cầu của ḿnh, một v́ sao khiêm tốn nhưng quư hơn cả trời sao bất tận v́ có bông hồng ḿnh yêu.
Có khi hoàng tử kể cho người bạn phi công những kinh nghiệm của ḿnh về nhân loại tại trái đất này. Khó hiểu nhất là những vườn hoa có hàng vạn bông hồng, mà chủ nhân xem ra vẫn không hiểu ǵ về hồng, vẫn không biết rằng cuộc sống có thể đẹp và đầy đủ nếu biết đặc biệt yêu thương chỉ một bông hồng độc nhất. T́nh yêu sẽ làm cho bông hồng ấy đẹp hơn tất cả mọi bông hồng khác họp lại. Hoàng tử cũng ngạc nhiên v́ con người lúc nào cũng tất bật vội vă, khi thấy nơi nhà ga những con tàu vội vă ngược xuôi, mà từ hành khách cho đến bác bẻ ghi cũng không biết vội vă tất bật như thế để làm ǵ.
Kinh nghiệm đẹp nhất là mối giao t́nh của hoàng tử với con cáo khôn ngoan của sa mạc. Hoàng tử đă học được nó về t́nh bạn, cũng như về nhiều chuyện khác trên đời. Cũng như t́nh yêu, t́nh bạn làm cuộc sống có ư nghĩa. Cáo nói, b́nh thường cánh đồng kia chẳng là ǵ cả, và cả hoàng tử cũng vậy. Nhưng khi đă thân nhau, hoàng tử không c̣n là một cậu bé như trăm ngh́n cậu bé khác mà trở thành bạn thân của nó. Và cánh đồng trở thành đẹp đẽ vô vàn, v́ màu lúa chín sẽ làm nó nhớ tới mái tóc vàng của bạn.
Mấy ngày trôi qua như vậy, hoàng tử kể cho người phi công lâm nạn rằng cũng nhờ con cáo ấy mà đă khám phá được những điều quan trọng về t́nh yêu. Là hoàng tử vẫn yêu bông hồng, hiện tại cũng như quá khứ. Hoàng tử đă bỏ bông hồng mà đi chỉ v́ không biết cách yêu. Hoàng tử đă quá để tâm tới những than thở trách móc của bạn, mà không biết thưởng thức cái hương thơm của hoa, hưởng thụ cái hạnh phúc bên hoa.
Câu chuyện giữa người phi công và hoàng tử nhỏ có khi đạt đến vùng triết học, phát hiện được chiều dài chiều rộng chiều sâu của cơi nhân sinh, ngay trong những sự việc tầm thường hàng ngày.
T́nh cờ triết lư ấy lại có nhiều điểm tương đồng với nền văn hoá và triết Đông tôi đă hấp thụ. Thí dụ khi đi t́m nước uống, hoàng tử dạy cho người phi công sự huyền diệu của cái tâm trên sự vật. Cái giếng mà hai người t́m thấy không c̣n là cái giếng vô hồn. Nó sẽ là một cái giếng đặc biệt. Từ cái kẽo kẹt của sợi thừng trên ṛng rọc cũ, cho tới cái gầu trĩu tay, cho tới cái mát trong cổ họng của ngụm nước giữa cơn nắng gắt, tất cả gắn liền với cái tâm của ngày hôm nay làm giếng trở nên tuyệt vời.
‘Cái đẹp của sa mạc là đâu đó nó giấu một giếng nước ngọt’, Saint-Exupéry nói chuyện khát mà đẹp những ba bẩy đường. Gide đă khai triển ư niệm này trong La Symphonie Pastorale, khi ông mục sư tả núi đẹp như cơn khát giữa trưa hè. Saint-Exupéry đưa cái h́nh tượng ấy đến một mức cao hơn, khi đề cập đến cơn khát giữa sa mạc. Hai nhà văn Pháp quả thật rất gần với nhau. Gide đă ảnh hưởng trên Saint-Exupéry rất nhiều, và đă viết tựa cho Vol de Nuit, cuốn truyện đầu tiên của nhà văn phi công với tầm mức của một đại tác phẩm.
Cát bỏng đối chiếu với nước giếng ngọt, rơ ràng là một cái nh́n bất nhị để thấy mẫu số chung cho những thực thể tưởng như trái ngược. Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Giữa thanh vắng trong pḥng sách của anh bạn chủ nhà, đêm Lyon đó tôi bắt được hương vị thiền phảng phất trong Le Petit Prince của Saint-Exupéry. Tôi ráng phân tích sự việc tưởng như vô lư khi Đông, Tây gặp nhau thân thiết thế này. Phải chăng đây là ảnh hưởng của nội tâm Á Đông của tôi khi tiếp thu cảnh trí Tây phương.
Hương thiền lại dạt dào trong cách hoàng tử giă từ quả đất để trở về tinh cầu cũ, sau khi hiểu được mối t́nh thâm sâu của ḿnh với bông hồng. Giây phút tiễn biệt được chọn đúng lúc tinh cầu bay qua ngay trên thiên đỉnh của bức tường cổ. Hoàng tử ra đấy đứng, để nhờ một người bạn khác mới quen giúp phương tiện hồi hương. Không có người bạn này th́ chuyến về không xong, v́ hành tŕnh dài hơn khó hơn tất cả những chuyến bay người phi công hạ giới đă bay từ trước đến nay cộng lại. Hành tŕnh ấy, hoàng tử không thể mang theo thân xác, dù xinh xắn như thế cũng vẫn c̣n quá nặng nề. Người bạn tốt sẽ giúp hoàng tử thoát cái xác phàm để nhẹ nhơm mà lên đường. Người bạn đó chính là con rắn sa mạc. Nó trấn an hoàng tử là nó có dư nọc độc, để chuyến đi nhanh chóng và ít đớn đau. Sợ người phi công xúc động trước cảnh thông thường gọi là hấp hối khi nọc độc thấm, hoàng tử mới đầu không chịu cho bạn tiễn đưa. Phải khó khăn lắm người phi công mới được chứng kiến giây phút trang trọng ấy.
Con rắn độc không ác, chết không phải là hết, bản chất mọi chuyện không tốt không xấu, không sinh không diệt... Mới đầu tôi hơi ngạc nhiên t́m thấy thiền vị trong Le Petit Prince, v́ Saint-Exupéry không phải là một Teillard de Chardin đă lưu lạc nhiều năm bên Trung Quốc để gặp kinh sách Phật. Nhưng lẽ ra tôi không nên ngạc nhiên, v́ nghĩ cho chín th́ thiền không phải là đạo, mà là một cách sống tỉnh thức, không cần phải là Phật tử mới biết. Và mọi triết học tốt, dù đă có tên triết Đông hay triết Tây, hay mang h́nh thức tôn giáo này hay tín ngưỡng nọ, hay c̣n vô danh trong cái triết lư sống của một con người biết nghiêm túc tư duy, thường có dịp đồng quy khi đến gần chân lư. Tôi chủ tâm không viết hoa chữ ‘thiền’ v́ dụng ư đó.

*****
Người ta cho rằng tác phẩm đă tiên đoán cái chết yểu mệnh của nhà văn. Saint-Exupéry mất tích ngày 31 tháng 7 năm 1944, chừng độ một năm sau khi Le Petit Prince được xuất bản. Hôm ấy, ông cất cánh lúc 8 giờ 45 từ phi trường đồng minh tại đảo Corse, trên chiếc phi cơ hai thân Lightning P-38 tối tân của không lực Mỹ bấy giờ. Nguyên là chiến đấu cơ, phi cơ được trang bị lại cho chức năng thám thính, cỗ súng đại liên trước mũi được thay thế bằng dàn máy ảnh. Nhiên liệu đủ bay 6 tiếng đồng hồ, và phi vụ lẽ ra chấm dứt lúc 12:30. Một giờ chiều ông vẫn chưa trở về căn cứ, và sĩ quan tư lệnh của ông bắt đầu thấp thỏm, đứng ngồi không yên. Đến 3 giờ rưỡi, ông vẫn biệt tăm, và người ta đành phải ghi nhận rằng ông đă mất tích. Tháng sau, tang lễ của ông được cử hành.
Saint-Exupéry có nhiều lư do để bất măn với cuộc sống vào những năm cuối. Sau khi Pháp bị Đức chiếm ít lâu, ông bỏ sang New York sống đời tha hương. Ông không theo phe De Gaulle của kháng chiến hải ngoại, mà cũng không theo phe Pétain của Vichy hợp tác với Đức. Không kinh nghiệm chính trị, ông kêu gọi ḥa giải và đoàn kết, phát biểu những lập trường không làm phe nào hài ḷng. V́ ông là nhà văn nổi tiếng có thể ảnh hưởng đến quần chúng, những non dại chính kiến của ông không được bỏ qua, và ông bị tấn công tới tấp bởi những cây bút duới trướng tướng De Gaulle. Ông t́nh nguyện gia nhập phi đoàn thám thính của đồng minh trong cảnh ấy và tuổi ấy, phải chăng phần nào mong muốn hành động chống Đức chứng tỏ cho ḷng yêu nước tha thiết của ông.
Lư do bất măn khác là sự nghiệp phi công của ông đă về chiều từ mấy năm trước. Khi hăng hàng không thư tín vẫn thuê ông bị lỗ lă và giải thể, hăng Air France đă không thu nhận ông như đă thu nhận phần đông các phi công khác. Ông chỉ c̣n bay với tư cách phi công trắc nghiệm cho những loại máy bay mới phát minh, trong đó có chiếc thủy phi cơ khổng lồ mà tai nạn đă cho ông nếm mùi chết ngạt dưới nước. Thế Chiến thứ hai bùng nổ, ông t́nh nguyện mà không được tuyển dụng lái chiến đấu cơ. Về tư cách phi công, ông đă hết thời từ lâu. Ngoại tứ tuần, người đầy thương tích v́ những tai nạn phi hành cũ, hút thuốc lá liên tục, ăn uống thoải mái từ lâu với giới thượng lưu Pháp và Mỹ, ông không c̣n phong độ của những chuyến bay đầu mấy chục năm trước. C̣n nữa, kỹ thuật hàng không tiến nhanh và đă vượt xa ông. Quá tuổi, quá kư, thiếu huấn luyện cập nhật, ông không thích hợp với những chiếc máy bay tối tân chế tạo cho những thanh niên thon thả từ 10 cho đến 20 tuổi trẻ hơn và vài chục cân Anh nhẹ hơn. Quen thuộc với những máy bay Pháp kiểu cũ, ông bực ḿnh với dàn đồng hồ phức tạp của chiếc P-38, than thở rằng làm phi công mà phải tỷ mẩn như làm kế toán viên. Ông không chịu thích nghi, tiếng Anh không chịu học để khi bay có thể nghiêm túc liên lạc với tổng đài. Đơn vị đo lường cao độ, ông thường lầm bộ Anh với mét Pháp. Ông lại đăng trí, một trong những tai nạn của ông là do hạ cánh mà quên không hạ dàn bánh xe.
Chỉ v́ là nhà văn lớn mà ông vượt qua những cản trở do lề luật áp dụng cho người thường. Vào lục cá nguyệt cuối của năm 1944, ông được nhận vào phi đoàn thám thính của đồng minh tại đảo Corse. Sau tám phi vụ trong ṿng hai tháng, ông làm hỏng một chiếc máy bay của Mỹ trị giá hơn tám vạn đô la bấy giờ. Bị cắt cánh, ông t́m cách để được bay tiếp. Ông năn nỉ viên đại tá Mỹ chỉ huy trưởng căn cứ, rằng ông mong được hy sinh cho tổ quốc Pháp, để được trả lời rằng ông muốn chết th́ hoàn toàn tùy nghi, nhưng yêu cầu đừng chết trong máy bay Mỹ. Câu trả lời phản ánh hai thang giá trị khác biệt của hai văn hóa. Tôi không đồng ư hoàn toàn với câu phán xét vắn tắt là Pháp trọng văn, Mỹ trọng tiền. Có điều rơ ràng là sự cố nói lên tác phong trịch thượng của nhiều quân nhân Mỹ với đồng minh trong những cuộc hành quân hỗn hợp từ xưa đến nay.
Nhưng không ai chối căi được là hai bên Pháp và Mỹ tại căn cứ Corse nh́n Saint-Exupéry theo hai cách nh́n khác biệt. Với phi công Pháp và người Pháp nói chung, ông là bậc tiền bối khai sơn phá thạch của nghề bay. Ông lại là văn sĩ lớn, một tư thế quan trọng bậc nhất với văn hóa Pháp, nơi mà nhà văn quư hơn nhà giàu, quư hơn nhà tướng, quư hơn nhà quan. C̣n với đồng minh Mỹ, ông chỉ là một phi công quá tuổi, quá kư, quá vụng, với thành tích bất hảo là đă gây ra nhiều tại nạn phi hành và phá hư nhiều phi cơ, trong đó có chiếc Lightning P-38 tối tân trị giá 84.000 đô la mới giao cho ông không lâu. Phải mở dấu ngoặc công bằng ở đây để ghi nhận sự phục thiện của người Mỹ. Một sĩ quan không quân Mỹ khi ở căn cứ hỗn hợp tại Corse có lẽ chỉ trên 20 chút đỉnh, về sau thú nhận là thời đó anh ta c̣n trẻ dại và dốt, không biết Saint-Exupéry là ai mà cũng không biết văn học là ǵ, nên không kiếm dịp thân hơn và kính trọng hơn một con người đặc biệt.
Tuy nhiên, văn học xem ra thắng thế một lần cuối. Qua quen biết lớn bắt nguồn từ trong văn giới, Saint-Exupéry được bay trở lại bất kể sự phản đối ban đầu của viên tư lệnh nhỏ trực tiếp chỉ huy ông. Ông được bay chuyến thám thính thứ chín, hiểu ngầm là chuyến cuối cùng trước khi giải ngũ. V́ ông tử nạn, nguời ta không có cơ hội giải ngũ ông.
Những khám phá sau ngày 31 tháng 7 định mệnh ấy, cùng với t́nh trạng bất măn với cuộc sống kể trên làm cho giả thuyết tự vẫn khó loại bỏ. Truớc chuyến bay cuối, Saint-Exupéry để lại di bút rằng nếu bị bắn hạ th́ ông tuyệt đối không tiếc nuối ǵ. Ông sợ sống sót để thấy cái tổ mối nhân loại tương lai. Ông chán ghét những con người đă biến thành những thằng rô-bốt...
Có người nghĩ ông sợ cho bản thân sau khi bị tấn công ráo riết trên báo chí và radio bởi những cây viết theo phe De Gaulle, v́ ông kêu gọi người Pháp (kể cả người của phe Vichy thân Đức) phải đoàn kết. Những tuần lễ trước khi chết, ông thường tỏ ư bi quan về chiến thắng của đồng minh và ngày ḥa b́nh sắp tới. Ông nghĩ sẽ có nhiều cuộc hành h́nh bởi phe kháng chiến khi họ thành công.
Thật ra ông không ngại bàn đến cái chết, và có thể bàn cặn kẽ về chuyện chết làm sao. Ông tuyên bố nếu chết, ông sẽ chọn chết dưới nước, chỉ ngộp một chút là xong, không đau đớn ǵ, theo kinh nghiệm chết hụt trước đấy khi chiếc thủy phi cơ ông trắc nghiệm bị lâm nạn.
Tự vẫn là một chuyện nghiêm túc. Tuy nhiên có một sự việc vơ vào khá ngộ nghĩnh của một số chuyên gia văn học khi họ t́m cách dẫn chứng cho giả thuyết tự vẫn. Đó là chi tiết tinh cầu của hoàng tử nhỏ có 44 hoàng hôn trong 24 tiếng đồng hồ. Ông cũng đúng 44 tuổi khi chết, nên người ta suy diễn rằng cuốn sách nhỏ là một sứ điệp của ông về tuổi thọ của ḿnh. Ai đă định tự vẫn tất nhiên tiên đoán đúng tuổi thọ của ḿnh. Nhưng sự dẫn chứng mất cơ sở khi xét lại nguyên bản tiếng Pháp của ông, v́ số hoàng hôn trên tiểu tinh cầu trong 24 giờ thực sự là 43. Xin mở dấu ngoặc để ghi nhận rằng như mọi chuyện liên hệ đến Saint-Exupéry, câu hỏi này giải đáp xong th́ câu hỏi khác lại mọc ra. Tại sao có sự khác biệt trong bản Anh ngữ là một câu hỏi mới, thêm vào những câu hỏi không có trả lời mà cũng không hiếm hoi đă có sẵn về ông.
Có giả thuyết khác là máy bay ông đă bị phá hoại. Nhưng phá hoại hay tự sát không ác độc như những giả thuyết khác của đám kẻ thù tiểu nhân. V́ nhỏ nhen ghen tị, họ mập mờ điều ong tiếng ve ám chỉ rằng sự mất tích của ông ám muội, biết đâu không dính đến một âm mưu hay phản bội nọ kia. Thậm chí có kẻ c̣n huỵch toẹt nghi ngờ ông đă đào ngũ. Nhưng sự công b́nh đă thắng, và nước Pháp rất sớm sau tai nạn đă tuyên dương ông là người anh hùng vị quốc vong thân.
Thời gian trôi qua, thập niên này nối tiếp thập niên khác, người ta chấp nhận tác giả đă thực sựï qua đời, dù xác người cũng như xác phi cơ không t́m thấy. C̣n tác phẩm vẫn tiếp tục được chiếu cố. Sáu mươi năm qua, truyện vẫn có độc giả mỗi ngày mỗi đông, trẻ con cũng như người lớn. Cho đến bây giờ cuốn Le Petit Prince đă phát hành 10 triệu bản tại Pháp và các quốc gia khu vực tiếng Pháp, và trên 20 triệu bản chuyển sang ngoại ngữ trong cộng đồng thế giới.

*****
Hôm nay viết lại chuyến du lịch Lyon ấy, tôi c̣n đuợc thêm dữ kiện từ những bản tin ngắn về những cố gắng vô hiệu quả để t́m chiếc phi cơ lâm nạn của ông trong vùng Địa Trung Hải gần Pháp. Bắt đầu là cuộc t́m kiếm nghiêm túc đầu tiên thực hiện 37 năm sau ngày ông biệt tích trên đường công vụ. Cuộc t́m kiếm dựa trên bản báo cáo mới phát hiện bấy giờ của một thượng sĩ không quân Đức trong Thế Chiến thứ hai. Y kể bị tấn công ngoài khơi Marseille bởi một chiếc P-38 kiểu hai thân đặc thù, lúc 12 giờ 30 cũng cùng ngày 31 tháng 7 năm 1944. Y chưa kịp nghênh chiến th́ chiếc phi cơ kiểu Mỹ hỏng máy đâm đầu xuống biển. Ngày tháng trùng hợp, mà cũng có lẽ cũng v́ giả thuyết tự vẫn mà người ta không thắc mắc v́ sao một chiếc phi cơ thám thính không vơ trang lại dám tấn công một chiến đấu cơ. Nhưng chiếc P-38 đó không phải là chiếc phi cơ của Saint-Exupéry.
Việc t́m kiếm vẫn tiếp tục. Sau cùng một ngư phủ tên Bianco t́nh cờ quét lưới gần đảo Riou ngoài khơi Marseille, vớt lên được một chiếc ṿng đeo tay với hàng chữ ‘Antoine de Saint-Exupéry (Consuelo)”. Hôm đó là mùng 7 tháng 9 năm 1998. Anh ta sững sờ. Tất nhiên Antoine de Saint-Exupéry là tên nhà văn mất tích, và Consuelo trong ngoặc đơn là tên vợ ông. Mới đầu Bianco tưởng ai đùa dai đă thả chiếc ṿng tay giả mạo xuống biển cho người ta vớt. Rồi chính Bianco bị nhà hữu trách cũng như báo chí cho là anh đă giả mạo, và những nghi vấn thiếu thiện cảm làm anh lao đao một thời. Nhưng dùng phương tiện văn minh hiện đại hướng vào vùng biển khoảng kiếm được chiếc ṿng tay, người ta đă nhặt thêm được những mảnh vỡ của một chiếc phi cơ P-38. Một trong những mảnh ấy có mang hàng chữ 2734L, số danh bộ hăng chế tạo hàng không Lockheed xưởng Burbank Cali đă dập vào chiếc phi cơ cuối cùng mà không quân Mỹ giao cho Saint-Exupéry lái.
Chiếc phi cơ của Saint-Exupéry chính thức được nhận diện. Bianco được giải oan. Thật ra, những đồn đăi ác độc ám chỉ phản bội, thậm chí đào ngũ khi nhà văn mới mất tích cũng không c̣n lư do để tồn tại. Saint-Exupéry không cần sự giải oan này, v́ nước Pháp từ lâu đă quyết định ban cho ông tất cả vinh dự mà một phi công hay một nhà văn có thể mơ ước. Hơn nữa ḷng yêu mến của độc giả khắp nơi với 30 triệu ấn bản làm chuyện giải oan cho Saint-Exupéry không cần thiết đến chỗ khôi hài.
Mặt khác, thời buổi văn minh hiện đại, ai đă nổi danh th́ thật khó tan biến vào cơi hư vô. Một khối vật chất không to ǵ lắm như chiếc tàu bay hai thân cũng không thể biến đi luôn dù trong bao la của Địa Trung Hải. Chiếc P-38 của nhà văn tưởng đă nằm yên trong ḷng biển, sáu thập niên sau vẫn bị lôi lên.
Tôi lại nghĩ đến cuốn Le Petit Prince. Cũng như tác giả, cuốn sách là một huyền thoại lớn. Các nhà văn nói chung, dù đạt tới chỗ thượng hạng, khi được phỏng vấn cũng thường tuyên bố là chỉ mong văn ḿnh 5 năm sau c̣n có người đọc. Tất nhiên là tuy không nói ra, trong thâm tâm các vị tin rằng tác phẩm của ḿnh sống sót lâu hơn, thường thường là nhờ trở thành tài liệu giáo khoa hay văn học sử. Nhưng không ai có thể tin rằng, 60 năm sau khi được xuất bản, một cuốn truyện nhi đồng mỏng như Le Petit Prince vẫn có sức lôi cuốn như thế với người đọc mọi lớp tuổi. Phải chăng cái chết lăng mạn, quá trẻ, và đầy huyền bí, đă đóng góp cho huyền thoại của ông? Nếu ông chết già trên giuờng bệnh chắc văn nghiệp của ông sẽ không tránh được thiệt tḥi.
Chiếc phi cơ P-38 của nhà văn đă bị lôi lên như thế, đầy đủ với số danh bộ của hăng Lockheed dập trên tôn máy bay, th́ huyền thoại sẽ sứt mẻ bao nhiêu. Tôi nghĩ chắc không bao nhiêu. Có những huyền thoại có đời sống riêng, những chân lư cụ thể loại cân được đo được không chạm được được đến chúng. Trong trường hợp Saint-Exupéry và hoàng tử nhỏ, huyền thoại là những ǵ do độc giả đă tự hư cấu ra. Nhà văn và nhân vật của ông đă trở thành hai tâm hồn trong sáng từ một tinh cầu xa lạ xuống thăm trái đất, để không lấy ǵ làm thú vị với những điều trông thấy nên lặng lẽ bỏ đi mà không để lại vết tích.
Nhưng kỳ lạ là bên cạnh sự thất vọng về cái tầm thường eo sèo của nhân loại và nhân tâm, Le Petit Prince lại có t́nh yêu tha thiết dành cho người và cho thế giới của người.
Và kỳ lạ hơn nữa, là cái trong sáng thanh thoát đẹp như mơ như mộng của hoàng tử nhỏ, và cái tầm thường của những cuộc sống eo sèo của nhân loại, cả hai thái cực ấy lại rất quen thuộc, rất thân thiết. Chúng quen thuộc và thân thiết như những nét dung nhan của chính bản thân chúng ta thấy được mỗi khi soi gương. Chúng ta biết giới hạn tầm thường của ḿnh, nhưng chúng ta cũng biết có một phần trong chúng ta mong ước được đuổi theo một v́ sao ẩn dụ, dù chung cuộc có phải tan biến vào hư vô như một thiên thể đă hết quỹ đạo.
Huyền thoại như vậy th́ không thể bị đe dọa bởi những mảnh tôn mảnh nhôm rỉ vớt lên được ngoài khơi Marseille. Cuộc sống càng thực tiễn, càng cam go, càng khô cằn bao nhiêu, th́ huyền thoại càng quư hóa bấy nhiêu. Ví nó với cái ǵ nhỉ. Mượn ẩn dụ của Saint-Exupéry, tôi ví nó với một cuộc tây du, không phải để đi lại con đường tơ lụa của Ngài Đường Tăng, mà để đuổi theo cái đẹp của hoàng hôn... hay đúng hơn, tôi ví nó với gáo nước mát uống trong cơn khát giữa sa mạc.

Tháng Năm 2005
MAI KIM NGỌC.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved