Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Năm ngoái, nhân dịp đầu năm Giáp Thân, Sầu Đông - Nguyễn Thọ Chấn đă có nhă ư cho phép trang SALADE EsPRESSO “mở hàng” với bài khảo luận “Khỉ và Người”. Năm nay, năm Ất Dậu, tác giả quen thuộc của chúng ta lại gửi tặng trang SALADE EsPRESSO bài khảo luận “Năm gà nói chuyện gà”. Chúng tôi nhận được bài viết này vào những ngày cuối năm âm lịch, nhưng v́ những lư do kỹ thuật ngoài ư muốn, măi đến hôm nay, sau khi ăn Tết ta hơn một tháng, chúng tôi mới cho “tŕnh làng”. Chúng tôi thành thật xin lỗi tác giả về sự chậm trễ vô cùng đáng trách ấy, và xin giới thiệu cùng quư độc giả bài khảo luận duyên dáng với đầy thông tin bổ ích của Sầu Đông - Nguyễn Thọ Chấn.
SALADE EsPRESSO.
(Feb 22, 2005)


NĂM GÀ NÓI CHUYỆN GÀ

Trước thềm năm mới Ất Dậu xin chân thành gởi lời Chúc Mừng Xuân Mới đến toàn thể bạn đọc xa gần, xin gởi đến quí vị cùng quí quyến lời chúc Sức khoẻ, An b́nh, Thịnh vượng.
Đầu năm mới xin được hầu chuyện gà cùng quí vị.
Gà là loài vật đă cùng hiện diện với loài người trên trái đất này từ nhiều thiên niên kỷ. Nguồn gốc giống gà, việc phân bố gà trên thế giới, sinh học về gà, cùng các khía cạnh kinh tế , kỹ thuật của kỹ nghệ nuôi gà đă được nhiều nhà khảo cổ, nhân chủng, và nhất là những nhà khoa học hiện nay nghiên cứu khá tường tận. Nhưng như những loài vật c̣n in đậm dấu ấn t́nh cảm trên đời sống con người, được loài người thuần hoá rất sớm như chó, mèo, trâu, ḅ, lừa, ngựa… ta c̣n thấy rất nhiều h́nh ảnh thật dễ thương của những chú gà con, những trống, những mái thật đẹp của loài gia cầm ấy trong thơ, văn, nhạc, họa: từ chú gà độc nhỡn trong truyện của Tô Hoài đến chú gà trống gô-loa (gaulois) đỏm đáng của nước Pháp, từ gà mẹ chăm chút đàn con trong tranh gà làng Đông Hồ cho đến những chị gà mượt mà, hàng năm đẻ trên dưới 300 trứng trong những hội chợ gà ở nhiều nơi trên thế giới.
Trong những gia đ́nh Việt Nam, vào những dịp giỗ chạp, ma chay, lễ tết chắc chắn không thể thiếu một đĩa gà cúng nguyên con được trưng bày cẩn thận trên bàn thờ gia tiên, hoặc những món gà hấp dẫn trên bàn, hay trên chiếu tiệc.


1. Nguồn gốc giống gà và Phân bố gà trên thế giới
Giống gà nuôi hiện nay tên khoa học là Gallus Domesticus, thuộc họ Phasianidae, có lịch sử lâu dài hàng chục ngàn năm. Charles Darwin ông tổ của học thuyết tiến hoá, khi quan sát con gà rừng màu đỏ (Red Jungle Fowl) ở Đông Nam Á đă xác định nó là tằng tổ của những con gà trong sân gà ngày nay. Một vài nhà khảo cổ cho rằng gà đă được thuần hóa vào khoảng ba ngàn năm trước Công Nguyên.
Nh́n chung các nhà nghiên cứu về gà cho rằng giống gà được phát hiện sớm nhất ở Ấn độ, Trung hoa, và Đông Nam Á. Ở Ai Cập và quanh vùng Địa Trung Hải gà cũng đă xuất hiện từ lâu đời. Ba giống Brahma, Cochin, và Langshan là những ṇi gà Châu Á quan trọng nhất. Từ thế kỷ thứ mười lăm những giống gà Châu Á đă phối giống khá nhiều với những giống Châu Âu. Hiện nay ta chưa có chứng cứ vững chắc nào về việc thuần hoá gà đă bắt đầu sớm sủa nhất ở Châu Á hay không, trừ trường hợp gà chọi xuất phát từ Ấn Độ, Ja-va và Mă-lai.
Ở khắp các đảo rải rác trên Thái B́nh Dương, nơi nào có người là nơi ấy có gà. Thuyền trưởng Cook trong chuyến hải hành đă ghi nhận “tiếng gù gù thú vị trong rừng cây, và tiếng gáy vang lừng trên những cây ăn trái”. Ở Tahiti, người ta kể cho các thủy thủ của Cook là thần Taarva đă tạo ra người và gà cùng một lúc. Ở Hawaii, du khách được nghe kể là giữa trời nước bao la “một con chim cực lớn đă xà xuống mặt nước, đẻ trứng, và trứng nở thành đảo Hawaii”.
Về sự hiện diện của giống gà ở Châu Mỹ, các nhà nhân chủng học vẫn c̣n tranh căi kịch liệt về việc gà đă có mặt trên châu lục này trước khi Kha Luân Bố (Colombus) đến đó, hay là do người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem đến sau này, khi nhà thám hiểm Vicente Yánez Pinzón đến vùng duyên hải phía đông của Ba Tây (Brazil) vào năm 1500.
Khi người Tây Ban Nha đến chinh phục Mễ Tây Cơ, thổ dân Incas đă rất quen thuộc với con gà; tên của hoàng đế Inca cuối cùng là Atahualpa – tên gọi con gà của người Quechua. Trong nhiều bộ lạc của thổ dân da đỏ ở Nam Mỹ, gà và trứng gà đă được dùng rộng răi vào mục đích tôn giáo và nghi lễ.
Chúng ta cũng biết người Hy Lạp và La Mă cổ đại đă từng dùng gà vào việc tế tự. Điều này cũng đúng với các dân tộc sống ở Châu Á, đặc biệt ở miền Nam Trung Hoa và Đông Nam Á. Câu chuyện thần hoá gà hiện vẫn c̣n lưu truyền trong nhiều cộng đồng dân thiểu số ở Thái Lan và ở Cam Bốt. Với họ, gà trống là con vật linh thiêng, một “đồng thiếp” của các thần linh.
Những người theo Ấn Độ-giáo Chính thống (Orthodox Hindus) nằm trong số hiếm hoi những người xem gà là giống vật kinh tởm, và thái độ này bị nghi ngờ là bắt nguồn từ hai lư do: 1/ những đối thủ của họ là người Hồi-giáo rất quư chuộng giống gà, và 2/ nhiều nơi trên đất Ấn, gà ăn cả phân người.
Cho đến nay gà được ghi nhận đă xuất hiện ở Trung Hoa từ đời nhà Thương (khoảng 1520-1030 trước CN) và là một trong những thực phẩm chính dùng trong nghệ thuật ẩm thực của người Tàu. Trung Hoa cũng nổi tiếng là nơi mà kỹ thuật ấp trứng và nuôi gà từng đàn lớn đă rất sớm đạt đến mức tinh tế. Trứng gà sản xuất hàng loạt là một mặt hàng xuất cảng của Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước CN, và người Tàu đă hoàn thiện những phương pháp bảo quản cũng như vận chuyển trứng gà trước các nước khác rất xa. Ở các nước và vùng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Măn Châu và Tây Tạng, gà và trứng gà là nguồn thực phẩm quan trọng, và được dùng nhiều trong việc cúng tế. Ở Ấn Độ cũng như nhiều nước ở Trung Đông, gà và trứng gà là thực phẩm chủ yếu trong đời sống hàng ngày. Người Do Thái trong đám cưới, theo kinh Talmud, mang một chú gà trống và một chị gà mái đến trước cô dâu, chú rể và khấn “hăy sinh con đàn, cháu đống như gà”.
Tuy nhiên ở một vài nơi vẫn c̣n tồn tại những định kiến đối với thịt gà và trứng gà. Việc tránh không ăn thịt gà và trứng gà mà ta thấy rải rác nơi một số bộ tộc ở nhiều nơi trên thế giới – người Walamo ở Ethiopia, Uzinza ở Uganda, Hanzaga ở Burundi, Azande ở Sudan (Châu Phi) hay người Vedda ở Tích Lan (Sri Lanka) – bắt nguồn thứ nhất từ sự tin tưởng rằng gà là giống vật thiêng liêng, thứ đến là từ mối lo ngại về tính dục trong những xă hội mà nam giới nắm vai tṛ thống trị, đặc biệt từ việc tin rằng phụ nữ ăn trứng gà có thể gia tăng khả năng khoái cảm của họ và do đó có thể ảnh hưởng xấu đến đời sống gia đ́nh.
Trong nhiều thập niên gần đây, nhiều quốc gia có kỹ nghệ nuôi gà phát triển như Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu đă bằng nhiều cố gắng, đặc biệt thông qua vai tṛ của Liên Hiệp Quốc, quảng bá những kỹ thuật chăn nuôi, và qua đó đă cải thiện mức dinh dưỡng trong dân chúng của họ. Ở khắp nơi trên thế giới ta có thể nói không ngoa “Nơi nào có người, nơi đó có gà”. Nhưng sự lạm dụng quá mức các chất kích thích tăng trưởng và các loại thuốc kháng sinh, vấn đề vệ sinh và diện tích chuồng trại, cũng như vấn đề môi sinh dành cho các loại gia súc, gia cầm, đặc biệt là gà, đă dẫn đến những nguy cơ lớn đối với đời sống con người, điển h́nh là dịch cúm gà bộc phát liên tục trong hai, ba năm trở lại đây, khiến gà chết hàng loạt và số gà bị tiêu hủy lên tới hàng triệu, hay hàng chục triệu con ở những quốc gia chuyên nuôi gà kỹ nghệ.


2. Kỹ nghệ nuôi gà
Người ta nuôi gà để lấy thịt và trứng. Trong tất cả các giống lông vũ, gà là loài có số lượng lớn nhất trên thế giới hiện nay. Thịt và trứng gà là nguồn cung cấp dồi dào chất protein cho cơ thể chúng ta. Thịt gà tương đối ít mỡ hơn nhiều loại thịt khác, nhưng trứng gà th́ chứa rất nhiều chất cholesterol. Như chúng ta đều biết, lượng cholesterol cao trong cơ thể người ta là một nguy cơ dẫn đến các bệnh tim mạch. Nuôi gà lấy thịt và trứng là một kỹ nghệ lớn ở nhiều quốc gia trong đó có Úc và Canada; trong vùng Đông Nam Á, Thái Lan là nước có kỹ nghệ nuôi gà vào hàng thứ tư trên thế giới.
Cũng có người nuôi gà làm cảnh. Họ chọn vóc dáng gà, màu sắc, cách phối trí màu lông… và hàng năm tổ chức những cuộc thi tuyển “hoa hậu gà” và “lực sĩ gà đẹp”. Lông gà có nhiều công dụng, ngoài công dụng trang trí, lông gà c̣n dùng làm quạt tay, làm mồi giả nhử cá. Gà cũng c̣n được dùng trong nghiên cứu khoa học. Trứng gà được dùng để chế tạo nhiều loại vaccin dành cho người và thú vật.
Gà trưởng thành trung b́nh nặng từ 0,5kg đến khoảng 5kg, tùy giống. Lông vũ giúp bảo vệ thân nhiệt của gà trong mùa lạnh. Gà có mào và b́u nhỏ dưới mỏ. Gà mái đến tuổi đẻ (khoảng 5, 6 tháng) th́ đẻ đều đặn nhiều trứng. Có giống đẻ đến gần 300 trứng mỗi năm. Trứng ở nhiều trại gà kỹ nghệ được thu hoạch bằng máy. Trứng chạy trên dây chuyền dưới những loại đèn đặc biệt để công nhân lựa ra những trứng lành, không bị nứt bể, rồi phân loại lớn nhỏ trước khi cho vào vỉ. Gà thịt (ở Mỹ gọi là broiler) phần lớn được đem làm thịt lúc 7 tuần tuổi, khi trọng lượng đạt khoảng 2kg. Gà trống nặng trung b́nh từ 2,7kg đến 3,6kg ở vào tuần thứ 10. Loại gọi là gà đồng (fowl) th́ được nuôi trên một năm rồi mới làm thịt.
Ở Châu Âu từ thế kỷ thứ 18 nhiều giống gà đă phát triển ổn định, nhưng cũng trong thế kỷ ấy việc du nhập những giống gà lớn con từ Châu Á – mà ban đầu họ đặt tên đơn giản là “gà Thượng Hải”, hoặc “gà Chittagoong” (sau có tên chính thức là gà Cochin, thấy nhiều trong vùng Đông Nam Á) – đă gây nên những cơn sốt gà nhập. Ở Mỹ có một hiện tượng vô cùng ngoạn mục là Hội Chợ Gia Cầm Boston, do tiến sĩ John C. Bennett đứng ra tổ chức vào ngày 14 tháng 11 năm 1849. Trên mười ngàn người đă tham dự cuộc triển lăm này, xem xét 1,023 con gà thuộc đủ mọi giống. Vào giai đoạn này, gà đă xuất hiện trên trường giao lưu quốc tế: người ta mua bán, đổi chác, t́m mọi cách quảng cáo, tâng bốc những giống gà xuất sắc của ḿnh. Bác sĩ, luật sư, cả đến những mục sư cũng dẫn đầu trong việc chăn nuôi và tŕnh diễn gà.
Mục sư Edmund Saul Dixon là người viết cuốn sách nổi tiếng “Khảo về Lịch sử và việc Quản trị Gà thịt và Gà cảnh (Treatise of the History and Management of the Ornemental and Domestic Fowl) in vào năm 1849, cùng năm với cuộc đấu xảo gà ở Birmingham. Theo Dixon, anh gà trống Thượng Hải có lẽ là giống thượng thặng nhất trần gian, xứng đáng cặp với bất cứ chị gà mái nào trên thế giới. Hắn ta quả là dân “quư phái”. Mượn lời của một người rất ngoan đạo là Isaac Walton “Đức Chúa Trời đă có thể tạo ra một giống cá tốt hơn cả cá hồi, nhưng Ngài đă không làm chuyện ấy”, Dixon viết “con gà Thượng Hải rặt giống của chúng ta cũng vậy”. Những giống gà Châu Á như Cochin, Brahma, Malay, Cochinchina (đất Nam Kỳ xưa) phối giống với những giống địa phương như Polish, Hamburg, Dorking… đă tạo ra những giống gà mới đắt giá. Những gà trúng giải nhiều con giá lên tới hàng ngàn bảng Anh. Dixon không tin là có thể phát triển nuôi gà trên qui mô lớn v́ ông đă chứng kiến những bệnh dịch làm chết gà hàng loạt. Nhưng ở Mỹ, dù Dixon được xem là một tác giả quan trọng, tâm lư thực dụng và mối lợi lớn do việc chăn nuôi gà đem lại đă thúc đẩy mọi giới nỗ lực cải tiến kỹ thuật chăn nuôi. Trên đất Mỹ dần dần h́nh thành những trang trại nuôi gà qui mô rất lớn, từ vài chục ngàn con đến hàng trăm ngàn con. Những trại nuôi gà lớn thường tập trung ở một số tiểu bang như New Jersey, Delaware, Pennsylvania và Texas. Ngày nay thịt gà là món ăn rất b́nh dân của dân chúng nhiều nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Việc Việt kiều về nước khoe ăn một ngày từ một đến hai con gà nướng không phải là chuyện phóng đại của kẻ từ xa trở về.
Một vài giống gà khá quen thuộc với người Việt là giống gà Tàu Vàng thường thấy nuôi thả ngoài vườn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, con trống nặng trung b́nh khoảng 2,5 – 2,8kg, con mái khoảng từ 1,8 – 2kg, cổ to, chân to, lông màu vàng tươi, biết ấp và nuôi con, thịt rất ngon. Hay giống gà Ác, dễ nuôi, cũng thường được nuôi trong nhiều gia đ́nh. Gà có lông trắng, mỏ đen, chân ch́, da, thịt và xương màu đen, thịt thơm ngon, được coi là món tăng lực đại bổ; Nuôi sau 4 tuần gà Ác nặng khoảng 200g, tỉ lệ nuôi sống khoảng 96%-98%.
Một vài giống gà mới được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc như gà Tam Hoàng, lông và chân màu vàng, mỏ vàng, đuôi có lẫn lông đen, thân ngắn, lưng bằng, đùi to, 4 tháng nặng 2kg, thịt thơm ngon, tỉ lệ nuôi sống tới 95% (theo một bản tin Nông Nghiệp, Vĩnh Long). Gà Lương Phượng cũng nhập từ Trung Quốc: lông cổ, cánh, thân màu vàng sậm, tăng trưởng nhanh hơn gà Tam Hoàng, kháng bệnh tốt, nuôi từ 3 tháng đến 3 tháng rưỡi đạt 2kg; thức ăn cứ 2,2kg – 2,5kg cho 1kg thịt, đẻ vào tuần lễ thứ 24. Ngoài ra Việt Nam cũng đă du nhập nhiều giống gà năng suất cao từ Châu Âu và Mỹ như ISA Brown (từ Pháp) chuyên đẻ trứng, lông màu nâu lợt, nhỏ con, nuôi 5 tháng đạt 1,6 – 1,7kg, trung b́nh một con mái đẻ 289 trứng/năm. Một số giống gà đă từng nhập từ Mỹ vào miền Nam Việt Nam trước đây như Plymouth Rock là giống gà vừa cho trứng, vừa cho thịt rất được ưa chuộng, hay Rhode Island Red, lông màu nâu, đẻ nhiều, kháng bệnh tốt nay cũng đă được nhập trở lại. Ngoài ra ta c̣n có thể kể thêm một vài giống gà nổi tiếng khác như New Hampshire, Delaware.


3. Thú chơi gà đá
Ngồn gốc của tṛ chơi đá gà cũng xa xưa như việc thuần hoá gà rừng thành gà gia cầm, nuôi thả sống gần con người của những bộ tộc xưa. Theo những nhà nghiên cứu về gà, gà Rừng Đỏ xứ Ấn Độ (Red Jungle Fowl of India) và gà Rừng Xám xứ Mă Lai (Grey Jungle Fowl of Malaysia) là tằng tổ của những giống gà đá hiện nay.
Vào thế kỷ thứ 4 trước CN khi lần đầu tiên ta thấy người Hy Lạp đề cập tới con gà chọi, có phần chắc chắn khi ấy gà chọi đă hiện diện ở Ấn Độ và vùng Đông Nam Á. Người ta kể rằng ở Hy Lạp, Themistocles, một dũng tướng người Athenes đă đưa tṛ đá gà thành môn thể thao quốc gia. Khi xua quân vào vùng Ba Tư (nay là Iran), Themistocles thấy hai con gà đá nhau, ông đă cho đội quân dừng lại và chỉ dụ cho binh lính như sau “Hăy trông đây, những con gà này không hề chiến đấu cho các vị thần trong nhà của chúng, hay cho đền đài của tổ tiên, cho vinh quang, cho tự do, hay cho sự an toàn của con cái chúng, mà chỉ v́ bọn chúng không con nào chịu nhường con nào”. Được khích động bởi chủ tướng của họ, binh đội Hy Lạp đă đè bẹp quân Ba Tư. Mới chỉ bị “khích tướng” bởi “chiến tranh tâm lư” tí tỉnh mà quân Hy Lạp đă hăm hở xung trận như thế, nói ǵ đến chuyện lư tưởng xa vời! Từ đó tướng Caelius đă cho tổ chức những trận đá gà hàng năm tại trường đấu gà ở thành phố Perganum. Người ta buộc thanh niên đến tham dự để học bài học về sự can đảm và về sức chịu đựng dẫu có phải chết chăng nữa. Ngay từ thời kỳ ấy, người ta đă biết buộc những thanh kim loại vào cẳng gà, và gà được huấn luyện như những tay giác đấu. Theo truyền thuyết Hy Lạp, Hermes, vị thần của thương mại, cũng đồng thời là thần của phường trộm cắp và cờ bạc, của tài hùng biện và việc tranh đua trong thể thao. Vóc dáng hùng dũng của con gà chọi cùng tiếng gáy “hùng hồn” của nó đă khiến nó trở thành h́nh ảnh tượng trưng cho thần Hermes. Trong văn hoá của người La Mă, họ đă thừa hưởng cái máu đam mê của dân Hy Lạp. Đá gà c̣n là biểu tượng của người xưa không chịu khuất phục và cam tâm sống đời nô lệ. Tṛ đá gà trong những thế kỷ sau đă trở thành phổ biến ở khắp mọi nơi trong các vương quốc Âu Châu đến mức Giáo Hội Công Giáo La Mă phải t́m mọi biện pháp để ngăn chặn, v́ tính cách kích động dă man của những trận đấu gà ấy...
Ở Ấn Độ, bán đảo Mă Lai, Thái Lan, Việt Nam, Cam Bốt, Lào, cho đến tận những quốc gia ở vùng Bắc Phi không nơi nào người ta không trông thấy những trận đá gà.
Ở Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân cũng như ở nhiều nước Á Châu khác tṛ đá gà ở nhiều nơi đă biến thành tṛ cờ bạc rất thịnh hành. Trong thời gian vài năm gần đây, ở ngoại thành Hà Nội, xuôi theo con đường Giải Phóng, qua hồ Yên Sở, cách cầu phao Khuyến Lương khoảng 1km xuất hiện một “sới gà” (đấu trường) qui tụ hầu hết dân có máu mặt ở khắp các tỉnh miền Bắc như Bắc Ninh, Hải Pḥng, Nam Định... Mỗi sới gà lại có nhiều “sàn gà”, mỗi sàn qui tụ vài chục tay chơi. Các tay “chủ gà” nh́n đám gà ṇi của ḿnh lâm trận, kẻ th́ nghiến răng trèo trẹo, cổ bạnh ra, mặt đỏ tía, kẻ th́ mặt tṛn vành vạnh, lúc hồng, lúc tái, lúc đờ đẫn. Trên các sàn đấu, những “biện gà” luôn miệng ra giá “hai ăn một” (200,000 đồng ăn 1 triệu), hay “bốn ăn hai”. Có nơi chưa đầy ba tiếng đồng hồ tiền cá độ đă lên tới cả trăm triệu đồng. Chủ gà cho gà ăn tỏi, phun rượu ngâm gừng lên ḿnh gà, xoa bóp cẳng, thân cho gà… chăm sóc gà như ông bầu và huấn luyện viên chăm sóc các vơ sĩ quyền anh vậy! Tàn trận đấu “kẻ” bại trận có con chỉ c̣n màng da dính vào cổ, máu ướt đẫm cả lông trên khắp thân ḿnh; có con rũ cánh, gục đầu, mắt nhắm nghiền, thoi thóp thở vào những giây phút cuối cùng của đời gà chọi. “Kẻ” chiến thắng cũng vấy máu đầy trên đầu trên cổ và cánh, nhưng vẫn oai phong ưỡn ngực, vươn cánh gáy. Chủ gà thắng ôm gà của ḿnh vuốt ve, hôn hít; chủ gà bại th́ mặt mày tiu nghỉu như chó cụp tai. Và sau đó là màn chung tiền qua trung gian của trọng tài.
Ở Phi Luật Tân, một chuyện khó tin nhưng có thật đă xảy ra ở một sới gà vùng Zamboanga vào dịp đầu năm 2004. Chủ gà sau khi gắn bộ cựa sắt sắc như dao cạo dài chừng 5cm vào chân con gà cưng của ḿnh th́ bất ngờ gà vuột khỏi tay chủ. Thay v́ lao vào đối thủ, gà đă lao như sét đánh vào giữa đùi của chủ, cặp cựa sắc như dao làm rách toang cả ống quần đùi và làm đứt luôn một vài động mạch chủ. Chủ gà đă trút linh hồn trên đường tới bệnh viện. Giải thưởng ngày hôm ấy có tên là “Giải thưởng Darwin”.
Một viên tướng thời Đệ nhị Cộng Hoà ở Miền Nam Việt Nam vốn là tay chơi nổi tiếng về cả hai tṛ đá gà: gà chọi trên các “sới gà” lẫn “gà-chọi” ở trên giường. Mới đây “chú gà” này đă lại lên tiếng “gáy” khi về thăm Việt Nam. Âu đó cũng là một chú gà ưa gáy, tuy tiếng gáy của chú khiến nhiều người nghe khó chịu lắm!


4. Khi các Triết gia và những Nhà khoa học xưa bàn về gà
Aristotle có lẽ là sinh viên đầu tiên nghiên cứu về gà cũng như về nhiều khía cạnh khác của con người và của thế giới tự nhiên. Trong hầu hết những lănh vực nghiên cứu, với các triết gia trong những thời đại kế tiếp, những quan sát của Aristotle về gà được coi là sự thật khó ḷng phản bác. Aristotle là người có vinh dự thực hiện thí nghiệm đầu tiên của ngành phôi học bằng cách mỗi ngày lấy ra một trứng từ trong ổ gà đang ấp, quan sát và mô tả sự phát triển của phôi.
Khi Alcibiades hỏi Socrates tại sao ông không chịu tống cổ bà vợ đanh đá đi – cũng chính cái tính nết khó chịu của bà vợ lắm điều nổi tiếng ấy khiến ông thành người ưa triết lư về cuộc đời – th́ Socrates đă trả lời, cũng hết sức triết lư: “tại sao anh lại không đuổi lũ gà mái ra khỏi nhà anh chỉ v́ chúng cứ vỗ cánh phành phạch?”
Plato, môn đồ của Socrates, đă định nghĩa người là “loài hai cẳng không có lông vũ”. Khi Diogenes, thủ lănh của nhóm Cynics, mang một con gà trống bị vặt trụi lông đến Học viện của Plato và hỏi “đây chẳng phải là “người” của ông sao?” th́ Plato đă xét lại định nghĩa: “Người là thú hai cẳng không có lông vũ, nhưng có móng lớn”. Cách mô tả ấy chả thoả đáng tí nào. Nhiều triết gia sau này t́m cách bổ sung cho định nghĩa ban đầu của Plato nhưng hầu như chưa ai thành công.
Gà là con vật quan trọng trong văn hóa Hy Lạp; người La Mă c̣n hơn thế: họ mê gà đến độ tôn sùng. Ở La Mă, gà là thực phẩm, là loài thú linh thiêng, là thuốc, và là cả đề tài tra vấn về triết học nữa. Columella, một tác giả la-tinh viết về nông nghiệp vào thế kỷ thứ I đă dành chương dài nhất để bàn về gà trong cuốn “De re rustica” (“Bàn về những vấn đề thôn dă”). Tự điển Oxford Encyclopaedia cho rằng những thông tin của ông “chính xác một cách đáng ngạc nhiên”.
Varro (khoảng 116-127 trước CN), cha đẻ của khoa lịch sử thiên nhiên của La Mă, là một giáo sĩ của Pompei. Sau này khi Pompei bị đánh bại, ông về với Caesar, được phong làm giám đốc Thư viện Công cộng. Ông viết đến 620 tác phẩm, và không có ǵ đáng ngạc nhiên khi ta thấy ông đề cập khá nhiều đến tác phẩm “De re rustica” của Columella.
Sau Varro, Pliney the Elder (23-79 sau CN), bạn của hoàng đế Vespasian, đă biên soạn một công tŕnh bách khoa về lịch sử thiên nhiên có tên là “Historiae naturalis”, một tập hợp đáng kinh ngạc của những thông tin thật và những thông tin méo mó. Cũng như Columella ông ham mê t́m hiểu gà đến độ tính ṭ ṃ của một nhà khoa học đă khiến ông đến gần ngọn núi lửa Vesuvius, khi ấy đang phun lửa, khiến ông chết ngạt sau đó.
Sau Columella và Varro mười lăm thế kỷ mới lại có Ulysse Aldrovandi là người đă dày công nghiên cứu về gà. Trong mười lăm thế kỷ liên tiếp con gà hầu như đă bị quên lăng trong cộng đồng uyên bác của phương Tây. Dưới ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo, con người ở phương Tây đă từ lănh vực phổ quát của thực hành trong thế giới La Mă bước qua lănh vực khu biệt của chiêm nghiệm. Khoa học – sự quan sát cẩn thận đối với thế giới tự nhiên – đă nhường chỗ cho Thần học, vốn chỉ quan tâm đến những vấn đề “rốt ráo” như mối quan hệ giữa Thượng Đế và con người, và những dự kiến về tính bất tử. Và do đó con gà, một trong những sinh vật trần tục nhất cũng như thực tế nhất đối với con người, đă bị bỏ quên.
Ulysse Androvaldi sinh ở Bologna vào năm 1522. Hệt như những người chuyên t́m hiểu về gà trong một vài thập niên trở lại đây, ông là người yêu thích gà, dành cả một đời để chuyên chú quan sát giống này. Ông đọc không biết mệt những tác phẩm viết về gà của những tác giả cổ điển. Những sưu tầm của ông kéo dài nhiều chục năm, có kèm theo những bức vẽ của nhiều họa sĩ. Nhưng việc giảng dạy môn lịch sử thiên nhiên tại trường Đại Học Bologna đă không cung cấp cho ông đủ sở phí để sưu tầm, nghiên cứu, và đặc biệt để in bộ “Magnum Opus” gồm 9 cuốn viết về các loài thú. Năm ông 77 tuổi tác phẩm đầu tiên của ông mới được xuất bản (1599).
Những cuốn sách của Androvaldi, theo tiêu chuẩn của những nhà khoa học hiện nay, chỉ thuộc loại “cưỡi ngựa xem hoa”, nhưng những quan sát trực tiếp của ông rất cẩn thận và chính xác. Ông là một nhà điểu học khá hoàn thiện. Nếu người đồng hương của ông là Columbus đă đi ṿng thế giới trên những chuyến hải hành để t́m ra Tân Thế Giới, th́ ông là người đầu tiên đă dành được chỗ đứng vinh dự trong từng bước phát triển của khoa học hiện đại về gà, khi mà những truyền thuyết, ngụ ngôn, và cả những giới có thẩm quyền trước ông trong ngành này đă mất đi quyền lực của họ.
Cho tới thế kỷ thứ 16 những nhà thám hiểm người Tây Ban Nha đă đưa một vài giống gà đến Châu Mỹ, và qua thế kỷ thứ 17 người Anh đến định cư ở Bắc Mỹ cũng đă đưa những giống gà có đẳng cấp của họ đến đấy. Từ đầu thế kỷ thứ 19 một vài giống gà Mỹ đă được phát triển nhờ những hoạt động tích cực trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng như qua những công tŕnh quảng bá sau này. Vào đầu thế kỷ 20, kỹ nghệ nuôi gà đă trở thành quan trọng, kỹ thuật nuôi gà được cải thiện liên tục, và đến giữa thế kỷ th́ gà đă trở thành sản phẩm chăn nuôi chính trong nhiều trang trại lớn ở nhiều quốc gia.


5. Gà trong Văn chương, Nghệ thuật
Truyền thuyết và truyện dân gian về gà rất phong phú nếu ta trở lại với mối quan hệ giữa người và gà trong thế giới Hy Lạp – La Mă cổ đại. Hai h́nh thức văn học mà ta thường thấy là phương ngôn và ngụ ngôn. Trong truyện của Horace, câu nói “từ trứng đến táo” chỉ rằng tiệc của người La Mă bắt đầu với món trứng, và hàm nghĩa bữa tiệc thịnh soạn. Câu nói “hắn từ trứng chui ra” ám chỉ những người hết sức bảnh trai. Theo truyền thuyết La Mă th́ Castor và Pollux cũng từ trứng sinh ra, sau khi cha là Jove giả dạng làm thiên nga để làm t́nh với Leda khiến nàng sinh được hai trứng; Một trứng nở ra Castor và Pollux, trứng cón lại nở ra Helen-thành-Troy. Trong thế giới cổ đại, những người giống nhau về ngoại h́nh hay về tư chất thường được gọi là “từ cùng một trứng mà ra”. Ở đây chúng ta có thể liên tưởng đến một truyền thuyết cổ của người Việt chúng ta kể về bà Âu Cơ sinh 100 trứng nở ra 100 con, và tự đáy ḷng chúng ta, chúng ta không có lư do ǵ để không tin rằng 100 người con ấy dù đi lên núi hay đi xuống biển vốn đều đă mang trong ḿnh cái hạt mầm chung của t́nh thương yêu và sự đoàn kết.
Câu tiếng Anh “gáy như gà chọi” (“crowed like a gamerooster”) hẳn không khác câu ta vẫn thường hỏi khích mấy anh chàng thích “nổ”: “làm ǵ mà “gáy” dữ thế?”. Ở Mỹ hai tiếng “gà mái xanh” (“blue hen”) là tên gọi diễu Tiểu Bang Delaware, một Tiểu Bang có rất nhiều trại gà – và “gà xanh” c̣n hàm nghĩa là nóng tính, hay gây gổ: “She’s the blue hen’s chicks” chắc không xa lắm với câu tiếng Việt “Gà mái gáy gà cồ”. Trên đây là một vài câu tạm dùng để đối chiếu hai ngôn ngữ. Trong tiếng Việt những câu có chữ “gà” khá phong phú. Để chỉ những kẻ nhát nhúa, chẳng làm nên tṛ trống ǵ, ta có câu “đồ gà chết”, hoặc “gà nuốt giây thun”, hay “gà mắc tóc”. Để chỉ những anh lớn xác mà phổi ḅ, ta có chữ “gà tồ”. Khi nghe những người nghịch ư nhau nói chỏi lại nhau th́ ta bảo “ông nói gà bà nói vịt”. Gặp chuyện ǵ khiến ta sợ quá th́ ta nói “sợ đến nổi da gà”.
Đặc biệt có một loại gà rất nhiều người ưa thích là “gà-móng-đỏ”. Trong hàng ngũ của “giống” gà này có loại rất đắt giá – thịt mềm, thơm và ngon, lại biết nũng nịu mà tiếng Pháp gọi là “poule deluxe”. Xơi được loại gà này phải là những tay lắm của nhiều tiền, hoặc nhiều quyền thế. Ở nhiều nước đă từng thấy những chính khách thân bại danh liệt chỉ v́ những chị gà-móng-đỏ ấy. Bên Anh nhiều năm trước đây, cô gà-móng-đỏ Christine Keeler đă khiến ngài Bộ trưởng Quốc Pḥng thuộc chính phủ Bảo thủ là John Profumo bị đo ván trên giường, rồi sau đó phải từ giă luôn cuộc đấu trên vơ đài chánh trị! Vào thời Đệ nhất Cộng Ḥa ở miền nam Việt Nam xưa, một “dũng tướng” (!) đă từng chết gục trên bụng của một ả gà-móng-đỏ.
Trong nghệ thuật hội họa và điêu khắc cổ của Việt Nam, ta thấy nhiều h́nh ảnh của con gà dân gian. Tranh làng Đông Hồ vẽ gà mái với đàn gà con là những bức tranh dân gian rất giàu chất nghệ thuật. Nổi tiếng nhất phải kể đến tranh gà, lợn của gịng họ Nguyễn Đăng ở làng này. Vào những năm cực thịnh của tranh Đông Hồ (khoảng từ đầu thế kỷ 20 đến thập niên 1930) người ta đặc biệt chú ư đến lối “bỏ màu” đặc biệt của nhà này: màu son đỏ cam và màu vàng rực rỡ của hoa hoè, màu xanh mơn mởn của lá mạ non, cùng với màu đen của than lá tre bồi hồ kẻ những đường nét chắc và khoẻ, tạo thành những bức tranh tuyệt đẹp in trên giấy dó.
Trong văn chương thế giới có không thiếu những câu truyện hấp dẫn về gà, từ những chuyện ngụ ngôn cổ của Ê-dốp (Aesop) cho đến những truyện ngụ ngôn của La Fontaine mà nhiều người trong chúng ta đă được học trong chương tŕnh trung học, trong số đó truyện “Cáo và Gà” là một điển h́nh.
Ở Việt Nam, Tô Hoài là nhà văn tuyệt vời của tuổi thơ với những nhận xét cực kỳ tinh tế khi ông kể chuyện về các loài thú ở làng Nghĩa Đô của ông. Tô Hoài không chỉ là nhà văn của tuổi thơ, mà những truyện ông viết như “O Chuột”, “Quê Người” c̣n là những tuyệt tác về văn học, đă đặt ông vào vị trí xứng đáng giữa những nhà văn lớn của thế giới. Chàng gà trống độc nhăn trong truyện của Tô Hoài, chỉ qua một vài nét phác họa, đă trở thành một h́nh tượng sống động mà người đọc dù chỉ đọc một lần cũng có thể nhớ suốt một đời.
Bài thơ “Chợ Tết” của Đoàn văn Cừ đăng trên báo Ngày Nay (1938) với những câu thơ như:

Chùa xóm làm ngay ở mé ng̣i
Ngày tết lên chùa cúng gà xôi
Cúng xong các cụ chia gà béo
Bốn cụ ngồi bên chia bốn đùi

khiến ta nh́n thấy một h́nh ảnh dung dị, chân quê nhưng cũng đầy thi vị.
Huy Cận, cách đây hơn nửa thế kỷ, cũng từng viết về tiếng gà gáy trong bài “Em Về Nhà”:

Tới ngă ba sông nước bốn bề
Nửa chiều gà lạ gáy bên đê

nghe rơ ra là tiếng ḷng bịn rịn của một chàng thanh niên mới lớn, đang trải qua cảnh tiễn người yêu về quê nhà.
Cũng c̣n rất nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam khác đă đưa h́nh ảnh của gà vào trong thơ và truyện của ḿnh.
Gần đây thôi, khoảng trên một chục năm, Vơ Phiến trong bài “Gà Gáy Trong Thơ” đă viết: “Đang nhớ nhung mà gà nó dồn cho mấy tiếng gáy trưa th́ ḷng dạ bấn loạn, bồn chồn, hết chịu thấu. Gà với người gắn bó chặt chẽ quá. Cái gắn bó quấn quít dế với gà, giữa thiên nhiên và con người”. Thật t́nh khi đọc câu “Cái gắn bó quấn quít dế với gà” ta thấy cái hài hước nhẹ nhàng của nhà văn trước cuộc gắn bó bội phần hung hiểm (cho dế) ấy. Cái này chẳng khác lắm cái gắn bó của đảng với nhân dân!
Ta c̣n có thể trích dẫn rất nhiều h́nh ảnh về gà, lẫn tiếng gà trong tác phẩm của nhiều nhà thơ, nhà văn Việt Nam khác nữa, nhưng xin được tạm dừng ở đây để giới thiệu thêm một nét sinh hoạt văn hóa đẹp đẽ khác.
Ở nhiều làng, xă Việt Nam thuở xa xưa có tục lệ thờ Thành Hoàng. Hàng năm vào mùa xuân, nhất là vào tháng giêng, nhiều nơi có lệ tổ chức những hội thi tài trong đó có thi gà. Như ở làng Tạ Xá, xưa c̣n có tên là Lường Tè nằm trong một cụm bốn làng Lường Tè, Lường Bụi, Lường Lủi và Lường Lau thuộc tổng Lương Xá, huyện Phù Vân, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Bốn làng cùng thờ chung một Thành Hoàng, đó là “Trung Thành Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần”, người đă có công giúp Hùng Duệ Vương dẹp giặc cứu nước. Ở nơi đây, từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch hàng năm người ta tổ chức lễ “rước thánh về nghè” rất trọng thể. Thi gà diễn ra trong dịp này. Gà thi là gà sống thiến, thường nặng từ 2kg đến 2,5kg. Gà đoạt giải nhất, nh́ và ba được làm thịt để tế thần. Làm gà tế thần rất cầu kỳ, đ̣i hỏi người làm rất khéo tay để trang trí các món gà. Khi cắt tiết không được nắm chặt đầu, cánh và đùi gà để khi luộc gà da không có những chỗ bầm tím, nom không được đẹp. Chỗ cắt tiết dùng dao nhỏ, sắc và nhọn mà chọc để khi luộc vết cắt ngậm lại. Luộc với nước sôi vừa sủi tăm để gà khỏi tuột da. Mổ moi gà xong, gan, ḷng, mề được làm sạch rồi nhồi lại vào bụng gà. Cắt chân gà dưới khớp để chỗ cắt không bị co rút lên khi luộc chín. Gà được luộc trong nồi rộng, dùng đũa ngáng sao cho đầu cổ ngay ngắn và gà nằm ở tư thế tự nhiên, hai cánh gà xoè ra như đang cất cánh bay. Luộc xong, gà được đặt lên mâm đồng, mỏ ngậm một bông hồng, sẵn sàng để dâng lên bàn thờ.
Qua các hội thi vào những dịp lễ tết như vậy, ư thức về cái ngon, cái đẹp, cái khéo, cái hài ḥa thấm dần vào đời sống người dân quê.
Một kiến trúc có tên độc đáo ở Đà Nẵng là “Nhà thờ con gà”. Một người Pháp đă cho làm tượng một con gà và đặt trên tháp chuông của Nhà thờ Chính ṭa Đà Nẵng vào năm 1923. Từ đó đến nay nhiều du khách vẫn có thói quen gọi ngôi nhà thờ ấy là Nhà Thờ Con Gà. Ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo này là một công tŕnh kiến trúc phối hợp hai phong cách roman (la-mă) và gô-tích (gothic).
Trên đường từ Huế xuôi Nam c̣n có một làng có tên là “làng Gà”, v́ ngay lối vào làng có đặt một tượng điêu khắc rất lớn h́nh gà bằng xi măng.


6. Gà trong nghệ thuật ẩm thực
Trừ một vài trường hợp quá đặc biệt, thí dụ như đối với các tín đồ theo Ấn Độ Giáo chính thống, hoặc nơi một vài bộ tộc ở Châu Phi, gà là một trong những món thịt rất được ưa chuộng. Với người Việt, gà là loại thịt được dùng để chế biến thành nhiều món ăn rất hấp dẫn. Đăi tiệc không thể không có món gà. Cúng giỗ lại càng không thể thiếu.
Các nhà hàng ở khắp nơi trên thế giới hầu như không nhà hàng nào không có món gà. Trong dây chuyền thương mại Gà Chiên Kentucky (thương hiệu: ông già KFC) cũng như trong các hệ thống những món ăn liền (fast food) khác như Mac Donald, Burger King, Pizza Hut,… nhiều món gà b́nh dân bán rất chạy như cánh gà, đùi gà chiên kèm theo nhiều loại nước “xốt” đặc biệt. Nhưng ăn gà ở những tiệm fast food dù chuyên biệt như KFC, hay ở những tiệm thuộc hệ thống nấu ăn theo lối Á-Đông như Manchu Wok, Ho Lee Chau (có ở Mỹ và Canada) nhiều người vẫn không thấy ngon miệng bằng cơm gà b́nh dân ở các vỉa hè Sàig̣n. Mới đây, một quán ăn mang tên “Con Gà Pháp” ở số 33 đường Lê Lợi, Nha Trang, đă hănh diện quảng cáo: “Gà ở tiệm chúng tôi được nấu đặc biệt theo kiểu Pháp. Chúng tôi dùng toàn nguyên liệu và dụng cụ nấu ăn đưa từ Pháp qua. Một con gà ở tiệm chúng tôi đủ cho bốn người ăn, có kèm theo món khoai tây chiên (french fries)”. Chủ nhân cao lớn, tươi cười, có dáng dấp của một anh “gà trống gô-loa” (“coq gaulois”) đỏm dáng giữa những nữ nhân viên xinh xắn người Việt. Thật ra gà nơi đây ăn không khác ǵ món gà nướng ở những chợ tại Canada như chợ Loblaws ở Toronto, và món khoai tây chiên cũng na ná như món french fries của Burger King.
Trong nghệ thuật nấu ăn của thế giới, cách nấu gà kiểu Trung Hoa, Pháp, Ư, Ai Cập và Ma-rốc là những cách nấu gà được giới sành ăn ưa chuộng nhất. Những món gà Trung Hoa được nhiều người biết đến nhất là gà hầm thuốc bắc, gà xào cải làn, gà xào chua ngọt, gà hấp muối, gà hấp gừng hành, gà hấp x́ dầu, cơm gà Hải Nam và cơm gà Triều Châu. Trên thực đơn của các tiệm ăn Tàu thường có tới vài chục món gà khác nhau, nhưng về căn bản th́ cách nấu đều giống nhau. Thí dụ như món gà hầm thường dùng một số vị thuốc bắc quen thuộc như ư dĩ, hạt sen, nhăn nhục, táo tầu, thảo quả, hoài sơn... Các món gà chiên hay gà xào th́ dùng rất nhiều dầu ăn cũng như nhiều gia vị như nước tương, rượu nếp, tỏi, gừng, quế, hồi, dầu hào, dầu mè (vừng) v.v...
Những món gà của người Pháp, người Ư cũng hấp dẫn không kém. Phó mát, dầu ô-liu, hành, tỏi thường được dùng trong việc nấu các món gà. Nhập gia tùy tục, ăn cơm tây cho đúng lệ bộ th́ quả là hơi lỉnh kỉnh đối với nhiều người Việt chúng ta, nhất là khi vào nhà hàng, từ áo quần cần phải mặc cho đến chỗ ngồi khi vào bàn, cùng với thứ tự của các món ăn cũng như thức uống: nào là món rượu khai vị (apéritifs), rồi món khai khẩu (entrées), rồi rượu chính trong bữa ăn (như rượu vang, thường là hai loại trắng, đỏ với ly dùng riêng cho mỗi loại), rồi các món ăn chính (ḅ, heo, gà, hoặc hải sản), rồi sau đó là món tráng miệng (bánh ngọt, kem hay trái cây), và sau cùng thường là cà phê.
Đi đâu rồi ta cũng trở về với quê nhà. Những món gà kiểu Việt Nam rất đa dạng: gà luộc, gỏi gà, gà hấp lá chanh (chấm muối, tiêu, chanh), gà xào xả ớt, gà xào gừng và hành, gà xào cải, gà nướng vỉ (ướp muối, tiêu, tỏi), miến gà, phở gà, bún thang v.v... đều là những món ăn lành mạnh, không lạm dụng gia vị khi nêm nếm và không dùng quá nhiều dầu mỡ. Nguyên tắc chính trong nghệ thuật nấu ăn của người Việt chúng ta là tôn trọng hương cũng như vị nguyên thủy của nguyên liệu chính dùng trong nấu nướng. Xin kể lại câu nói của một người bạn Canada gốc Pháp trong một buổi tiệc nhỏ đầu năm: “Các món ăn Việt Nam được nêm nếm gia vị một cách hết sức thông thái (savamment dosés)”. Nghe lời tán thưởng ấy mà thấy ấm cả ḷng; Lúc ấy, qua khung cửa kiếng lớn của pḥng ăn nh́n ra một khoảnh đồi trống thấy nắng trong vắt rải trên sườn tuyết, có nhạc cổ điển êm dịu bên tai, trên bàn lại đầy các món ăn ngon, những người ngồi cùng bàn th́ biết vui vẻ ḥa chuyện, và cùng thưởng thức những món “quốc hồn quốc túy” của ta như gà luộc cắt miếng vuông vức, gà xé phay, nộm (gỏi) gà, bóng, miến, gị lụa... khiến ta chợt nhớ tới câu nói nổi tiếng về ăn ngon của nhà thơ Tản Đà. Và ta không ngạc nhiên ǵ khi thấy càng ngày càng có nhiều người trên thế giới biết đến tên tuổi của những món ăn vừa ngon vừa lành mà ông bà tổ tiên đă truyền lại cho chúng ta.
Nhân ngày đầu xuân, xin mời quí bạn cùng nâng chén.


7. Dịch cúm gà
Khoa học đă giúp đưa kỹ thuật nuôi gà đến những giới hạn mà trước đây ta không thể tưởng tượng được: những trại gà có số lượng gà lên tới vài chục ngàn con; Mức tăng trưởng gà đạt đến độ tối ưu (chỉ khoảng 2kg thức ăn để gà tăng trọng 1kg); Gà nuôi sau 6 tuần tuổi đă đạt trọng lượng gần 2kg; Gà mái đẻ hai trứng một ngày; Việc áp dụng các phương pháp khử trùng khu vực nuôi gà, dùng sinh tố kích thích sự tăng trọng, chích ngừa và dùng trụ sinh trở thành phổ biến trong chăn nuôi. Trong nhiều chục năm, tỉ lệ gà sống trong các trại đạt tới mức 95-98%. Nhưng tiến bộ khoa học nào cũng có những giới hạn của nó, và khi các loài gia cầm bị con người khai thác đến mức tối đa th́ tai họa bất ngờ cũng có thể xẩy đến bất cứ lúc nào. Năm 2003 vừa qua bệnh cúm gà đă bộc phát trước tiên ở một vài nước Châu Á; Sau đó ngay tại Mỹ và Canada, nơi mà kỹ nghệ nuôi gà phải kể là phát triển vào hàng đầu thế giới, bệnh dịch đă phát ra ở nhiều nơi. Rồi ở Úc vào cuối năm 2004 cũng đă xảy ra dịch cúm gà đến mức báo động.
Vào tháng 10 năm 2004 vừa qua, dịch cúm gà bộc phát tại Thái Lan khiến thủ tướng Thái đă phải khẩn cấp triệu tập tỉnh trưởng của 76 tỉnh nhằm t́m biện pháp giải quyết khẩn cấp. Lúc đó, số gà bị tiêu hủy lên đến 7 triệu con. Tại Indonesia, con số gà bị tiêu hủy là gần 5 triệu. Tại Việt Nam số gà bị tiêu hủy ở cả hai miên Bắc và Nam cũng là hơn 3 triệu con. Nhiều người khi đi ngang qua những băi đốt và chôn gà, như các băi ở Đông Thạnh, Hóc Môn hay Gia Định vẫn chưa hết bồi hồi. Một trường hợp điển h́nh như ở xă Long Thới, Nhà Bè, là xă chuyên về chăn nuôi heo, gà, vịt, trận dịch đă quét đi gần như sạch sẽ bầy gia súc gia cầm chính của xă, khiến cho đa số dân trong xă phải lao đao khốn khổ. Ở phường Nguyễn Cư Trinh, Quận Một, Sàig̣n, một người nuôi chim cảnh là ông lăo Tư Vinh, ngoài 70 tuổi, ư thức được tầm nguy hiểm của bệnh dịch và khả năng lây lan của nó gà sang các loiạ gia cầm khác, đă gạt nước mắt tự nguyện giao nộp những con chim quí hiếm của ḿnh, trong đó có một con họa mi rất đẹp và hót hay, từng đoạt giải ba tại Hội Chợ Hoa Xuân.
Virus H5N1 cực kỳ nguy hiểm đă gây nên bệnh cúm gà tại Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan và Camphuchia. Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho biết việc phát triển vaccin để ngăn ngừa loại virus này chỉ có thể có được vào khoảng đầu năm Ất Dậu (2005). Đây có lẽ là tin mừng lớn cho các nước có nền chăn nuôi gà kỹ nghệ, đặc biệt ở Châu Á.
Một bệnh khác gây viêm phổi cấp tính từ các loại gia cầm lây lan qua người là bệnh SARS, từng gây con số tử vong rất lớn và gieo kinh hoàng cho nhiều quốc gia trong năm 2003. Thành phố lớn Toronto ở Canada đă trải qua một mùa dịch bệnh SARS vào cùng năm ấy khiến người dân ở đấy đến nay vẫn c̣n ngán sợ và chưa quên; Vào thời điểm ấy, các du khách từ Trung Quốc, Hương Cảng, Singapore, Đài Loan và Việt Nam đến Canada phải qua một hàng rào kiểm tra bệnh dịch hết sức kỹ càng. Mọi biện pháp pḥng chống cẩn thận đều đă được chính phủ áp dụng, và dân chúng Canada – nhờ vào ư thức tôn trọng những qui định cũng như những hướng dẫn của chính phủ – đă giúp ngành y tế Canada khống chế được trận dịch chết người ghê gớm ấy.
Dịch cúm gà trong năm vừa qua cũng đă đến viếng nhiều vùng trên đất Mỹ, như Texas, Delaware, New Jersey và cả Pennsylvania, nhưng virus gà t́m thấy trên đất Mỹ là loại H5N2, thuộc dạng hiền lành hơn loại virus H5N1 gây bệnh dịch ở Châu Á. Ngay khi phát hiện gà Mỹ bị virus H5N2 ở Delaware và New Jersey, có khoảng 30 quốc gia đă cấm nhập thịt gà từ Mỹ. Năm 2004 ở Canada, trong tỉnh British Columbia, đă có trên hai chục trại gà qui mô lớn (từ hàng chục ngàn con trở lên) bị nhiễm virus khiến chính phủ rất quan ngại.
Cũng cần nhắc lại ở đây là vi khuẩn H5N1 rất nguy hiểm v́ đang có giả thuyết cho rằng ngoài tác hại gây tử vong hàng loạt cho gà, vi khuẩn này c̣n có khả năng lây lan từ gà qua người và biến thái thành dịch cúm sưng phổi cấp tính nơi người (SARS). Mới đây ở Thái Lan người ta c̣n phát hiện bệnh cúm gà lây lan sang mèo và chó nữa.
Hiện nay người ta đâm ra dè dặt hơn về tương lai rực rỡ của kỹ nghệ nuôi gà do những cơn băo dịch cúm gà xẩy ra liên tiếp trong hai, ba năm vừa qua khiến dân chúng ở nhiều nước, đặc biệt trong giới chăn nuôi gia cầm, rơi vào ṿng khốn đốn. Thời kỳ vàng son của kỹ nghệ nuôi gà trong thế kỷ trước đă bắt đầu bước vào một giai đoạn thử thách mới đầy chông gai.


8. “Gà ảo” trong thời đại điện tử
Ở thời đại điện tử người ta không chỉ gắn những con chíp (chip) để theo dơi sự di chuyển hoặc bệnh trạng nơi một số loài thú, mà người ta c̣n tính cả chuyện gắn chíp cho gà. Để kiểm soát đàn gà chọi đắt giá của ḿnh, lên tới trên hai ngàn con, Thái Lan đă có dự tính gắn chíp để theo dơi sức khoẻ gà nhằm pḥng ngừa một trận dịch cúm có thể làm tiêu luôn đàn gà đắt giá này.
Nói đến chip ta không thể không nói đến kỹ nghệ điện tử. Vào năm 1996, con “gà ảo” Tamaguchi do hăng Banzai – hăng sản xuất đồ chơi điện tử lớn nhất của Nhật – tung ra thị trường đă lôi cuốn hàng triệu thanh, thiếu niên. Gà ảo là một loại gà không ngán bất cứ thứ virus nào, kể cả virus H5N1! Gà ảo Tamaguchi là một con vật nuôi h́nh trái trứng bắt người nuôi phải cho ăn uống và tắm rửa, chăm sóc cẩn thận, nếu không gà sẽ ủ rũ, bệnh và chết toi. Theo lời nhà sản xuất, nuôi gà ảo tập cho thiếu niên tính siêng năng (?), tinh thần trách nhiệm và ḷng nhân ái đối với thú vật cũng như người chung quanh. Nhưng nhiều học sinh đă mê tṛ nuôi gà ảo đến độ quên cả học hành! Mới đây bà Kazue, một đại diện của hăng Banzai c̣n thông báo hăng đang chuẩn bị đưa ra thị trường loại gà ảo mới có giới tính (trống/mái) rơ ràng, và gà mái ảo c̣n có thể đẻ trứng nữa!
Từ con gà ảo Tamaguchi, đến nay lại có thêm “thiếu nữ ảo” dành cho giới đàn ông độc thân (và ai cấm được cả những “chàng gà” đă có vợ, con đùm đề vẫn tự cho ḿnh cái đặc quyền của giới độc thân?) do công ty Artificial Life sản xuất. Giám đốc Shoneberg của hăng này đă anh dũng phát biểu “Cô ta có thể làm bất cứ chuyện ǵ mà một thiếu nữ b́nh thường có thể làm”. Nếu gà mái ảo có thể đẻ trứng th́ không chừng người đẹp ảo cũng có thể sanh con cho bạn chăng?. Ôi, thời đại điện tử!!! Kẻ viết bài này tin chắc rằng sẽ có rất nhiều bạn đọc thuộc phe “liền ông” đầu tư vào những cô thiếu nữ ảo này cho đến lúc tan biến thành mây khói và trở về với thế-giới-ảo có thật; ở đó có bạn có thể sẽ phải đến gơ cửa thánh Phê-Rô theo như tin tưởng của những người Thiên Chúa giáo. Một lần nữa kính chúc quí bạn đọc vạn sự may mắn, tốt lành trong Năm Mới Ất Dậu này.

SẦU ĐÔNG.

Tham khảo:
- Ernest Cobb: “The hen at work: A brief manual of home poultry culture”, New York, 1919.
- Michel Foucault: “The order of things: An archaeology of the human sciences”, New York, 1970.
- “The races of domestic fowl” (National Geographic, April 1927).
- Francis Kligender: “Animal in art and thought”, Cambridge, Mass., 1972.
- Smith Page & Daniel Charles: “The chicken book”, The University of Georgia Press, 1975.
- www.laodong.com: Các bài viết của những tác giả khác nhau.
- www.dactrung.com: Các bài viết về ẩm thực.
- www.truongthi.com.vn: “Con gà chọi phản chủ”.
- www.cuisinedumonde.com: “The finest food from around the world”.
- vnexpress.net/Vietnam: “Đá gà ở Hà thành”.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved