Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Có ai tin rằng sách dạy nấu ăn là những tác phẩm văn học không? Chắc là không, mặc dù nấu nướng và ăn uống cũng là một nghệ thuật, hay nói theo tinh thần Đông phương, là một thứ “đạo”; Hơn nữa, lại là một thứ đạo đi trước những đạo khác, bởi v́ chúng ta thường nói “có thực mới vực được đạo”.
Ngoài cái duyên dáng tự nhiên khi cầm bút, Mai Trân chắc chắn c̣n là một người nấu ăn giỏi. Chị viết văn giống như xào nấu một món ăn: chị gom chung những mẩu chuyện tản mạn không đầu không đuôi, trong đó có những người quen, những kỷ niệm và xúc cảm, những món ăn và gia vị, và chị làm thành một truyện ngắn, rất ngắn, và cũng rất hấp dẫn.
Nhân ngày Năm Mới 2005, SALADE EsPRESSO hân hạnh được mời bạn đọc thưởng thức truyện ngắn “Chợ Lê Hồng Phong” của Mai Trân như thưởng thức một món ăn tuy không thịnh soạn nhưng ngon miệng, vừa hợp t́nh vừa hợp đạo.
SALADE EsPRESSO.
(California, 12 giờ đêm ngày 31 tháng 12, 2004, bước sang năm mới 2005)


CHỢ LÊ HỒNG PHONG

Chiếc taxi ngừng lại ở đầu đường Hồ thị Kỷ, tôi trả tiền, bước xuống và tiến vào con đường hẹp chỉ vừa đủ cho một chiếc xe hơi đi qua. Tôi dừng lại quán hớt tóc của anh Sơn ở ngay đầu đường. Quán của anh thật đặc biệt: quán được che bằng một tấm bạt ny-lông đă cũ, hai góc bên trong buộc vào hai cái đinh đóng trên tường, hai góc phía ngoài buộc vào đầu hai chiếc cọc tre, cắm xuống nền đất. Quán có hai chiếc ghế dựa, một chiếc gương cũ gắn trên tường, hộp đồ nghề của anh đặt trên một cái kệ làm bằng hai cái thùng gỗ kê chồng lên nhau. Đang cắt tóc cho khách, thấy tôi anh Sơn ngạc nhiên:
“Ủa chị Mai hả? Về hồi nào vậy?”
Tôi chưa kịp trả lời, anh đă đon đả:
“Mời chị ngồi chơi.”
Anh vội vàng nhặt tờ báo Tuổi Trẻ trên chiếc ghế trống để mời tôi ngồi. Trông anh khẳng khiu trong chiếc áo sơ-mi đă bạc màu, hơi quá khổ đối với tấm thân gầy g̣ của anh. Mặt anh đen sạm v́ nắng, má hóp, nhưng hai con mắt vẫn c̣n tinh anh và cái cười thật tươi. Chờ cho tôi an vị xong, anh nhanh nhẩu giới thiệu tôi với người khách cắt tóc của anh:
“Đây là chị Mai, bạn học cùng trường với tôi hồi ở Nam Vang.” [1]
Tôi hỏi thăm việc cắt tóc của anh. Anh lại cười thật tươi:
“Một cái đầu có 4.500 đồng thôi chị à (tương đương với 30 xu Mỹ). Cũng tạm đủ sống qua ngày.”
Ông khách góp chuyện:
“Tiệm của ảnh đông khách lắm đó cô, tại ảnh biết nhiều tin tức thế giới. Ảnh nghe đài BBC và đài VOA, rồi kể lại cho tụi tui nghe.”
Rồi anh Sơn và ông khách bắt qua câu chuyện thời sự, chính trị. Khi thấy có một người khách mới đến, tôi đứng lên cáo từ:
“Để tôi vô thăm chị Khuyên rồi sẽ trở ra nói chuyện với anh sau.”
Mới tám giờ sáng mà trời đă nóng. Tiếng động cơ xe gắn máy điếc cả tai, thỉnh thoảng đệm thêm tiếng c̣i xe inh ỏi. Dọc hai bên đường là những hàng quán nhỏ, kê sát nhau, nhiều nhất là quán cà-phê và quán ăn, xen lẫn với tiệm tạp hóa, quán gạo, quán mắm, quầy bán quần áo, giày dép, tiệm thuốc tây...

Đây là khu cư ngụ của nhiều Việt Kiều ở Kampuchea [2] hồi hương về năm 1970, sau biến cố chính trị tháng 3 năm đó ở Nam Vang [3]. Quư vị muốn ăn hủ tíu Nam Vang “thứ thiệt” phải đến khu này. Hủ tíu nơi đây được dọn trong tô nhỏ, nước dùng thật trong và ngọt lịm, sợi bánh hủ tíu nhỏ và dai, được trụng sơ trong nước sôi. Tô hủ tíu có đầy đủ tim, gan, thịt nạc luộc thái mỏng, thịt xay, tôm bóc nơn, điểm thêm ít tỏi phi, “tống xôi” (cải bắc thảo muối khô), chút mỡ nước, và hành ng̣. Người ta ăn hủ tíu với giá sống và hẹ tươi. Ớt, tiêu, chanh, tỏi ngâm dấm là những gia vị không thể thiếu. Các quán hủ tíu ở đây thường bán thêm bánh bao, bánh tiêu và “gị cháo quảy.”
Một món ăn đặc thù của người Kampuchea là món bún cá nước lèo, tiếng Kampuchea gọi là “num bà chốc”, cũng được tái tạo lại ở khu này. Nước lèo nấu với cá, nêm bằng mắm “bù hóc” (một món mắm của người Kampuchea làm bằng cá linh, một loại cá nhỏ, nhiều xương nhưng thịt rất ngọt) và củ ngải bún, một loại gia vị trông giống như củ riềng non. Món bún nước lèo này được dọn ăn với rau thơm thái nhỏ, trộn với giá sống và hoa chuối thái mỏng đă được ngâm trong nước có vắt chanh cho trắng.
Tiến dần vào bên trong con đường nhỏ này, quư vị sẽ đến quán bánh khọt. Bánh khọt ở đây không giống bánh khọt mà quư vị ăn ở các quán khác ngoài Sài G̣n hay các nhà hàng bên Mỹ. Bột bánh làm bằng bột gạo, trộn với nước cốt dừa và hành lá, đổ vào khuôn bánh khọt bằng đất nung. Khi bánh chín, vỏ bánh vàng và ḍn; trong ḷng bánh lỗ chỗ như tổ ong. Tôi ṭ ṃ hỏi bà hàng bánh khọt làm cách nào cho ḷng bánh khi chín lại có những lỗ nhỏ như tổ ong. Bà ta cười ngất, giọng đùa cợt: “Thiên cơ bất khả lậu đó cô Hai à!” Nh́n tay bà thoăn thoắt úp từng đôi bánh vào với nhau thành một cái bánh tṛn, dọn ăn với nước mắm pha với nước cốt dừa, thêm chút ớt hiểm đỏ tươi, thật khó cưỡng lại ư muốn ngồi xề xuống cái ghế đẩu con con, “làm” một đĩa. Bánh chỉ có bột, không nhân, nhưng thơm và béo ngậy.
Bên cạnh quán bánh khọt là quán bột chiên và bánh lọt xào. Từng miếng bột như bánh đúc, hay từng th́a to bánh lọt, được chiên vàng, rồi xào chung với giá, hẹ, x́ dầu, đập thêm quả trứng gà, ăn với tương ớt. Chả có miếng thịt nào cả nhưng sao ăn ngon thế! Tôi có cô bạn học rất thân thời Trung học ở Nam Vang, mỗi lần về Sài G̣n, việc đầu tiên là nó ghé lại xóm này, “xơi” một đĩa bánh lọt xào cho “đỡ nhớ nhung.”

Gần cuối đường Hồ thị Kỷ, rẽ tay trái là ngơ vào chợ Lê Hồng Phong. Dọc theo cái ngơ này là những quán tí hon, chỉ một người ngồi bán với một cái thúng hay cái mẹt, bày một vài loại bánh, hay ít rau tươi. Ngon nhất có lẽ là món bánh chuối hấp. Chuối sứ chín mùi được bọc một lớp nếp trộn với dừa nạo và đậu đen, gói trong lá chuối, hấp cách thủy. Bóc lớp lá chuối c̣n bốc hơi nóng, quư vị sẽ ngửi thấy mùi nếp thơm ngát. Cắn một miếng bánh, quư vị sẽ thưởng thức mùi dừa béo ngậy, nếp dẻo như quyện lấy răng, chuối chín mềm và ngọt như ướp mật, đậu đen th́ thật bùi. Bên cạnh hàng bánh chuối hấp này là một hàng bánh chuối khác. H́nh dáng cái bánh trông khác hẳn, tuy cũng làm bằng nếp, chuối, đậu đen và nước dừa. Mỗi chiếc bánh được buộc chặt, nấu chín trong nước sôi chứ không hấp cách thủy. Bánh chín, nếp nở ra, căng tṛn gần như muốn làm đứt cả giây buộc. Bóc bánh ra, nếp thật “rền”, dẻo và thơm, chuối màu đỏ sậm, ăn rất ngon.
Ngon không kém là món bánh bí hấp. Bánh được làm bằng bí đỏ (c̣n gọi là bí rợ) nghiền nát trộn với bột nếp và nước cốt dừa, gói lá chuối, h́nh vuông và dẹp, hấp cách thủy. Quư vị đă vào đến đây nhất định phải ăn thử v́ bánh này ngon lắm, và chỉ có bán trong xóm này thôi.
Chợ Lê Hồng Phong c̣n có một hàng chè độc đáo. Cô hàng là một thiếu nữ trẻ tuổi, xinh xắn. Mỗi ngày quán của cô có khoảng 10 đến 15 nồi chè khác nhau: chè đậu trắng, đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, đậu ván, chè bà ba, táo xọn, chè thưng, khoai môn, khoai lang, bột báng củ năng, bánh lọt bột nếp, bánh lọt bột năng, chè xôi nước bột nếp, xôi nước bột báng v.v..., và hai món ăn ngọt của người Kampuchea – xôi xiêm và bí đỏ “hấp sangkiar”. Cô hàng ngồi trầm tĩnh, vẻ mặt tươi cười, tay thoăn thoắt múc chè vào bao ny-lông cho khách mua mang đi. Người thiếu nữ xinh tươi này đă một ḿnh hàng ngày bán chè để nuôi gia đ́nh. Quán của cô rất đắt hàng, ít khi cô c̣n chè dư phải mang về. Nh́n cô, tôi nghĩ đến các quán thạch chè ở các Food court bên Cali, có máy lạnh, với mấy cô bán hàng ăn mặc thời trang, trang điểm cẩn thận.
Một món tráng miệng đặc biệt nữa là món thốt nốt ngâm đường. Hột thốt nốt khoét ra từ quả thốt nốt c̣n non, được gọt vỏ, thái mỏng, ngâm nước đá và đường. Thốt nốt là một loại quả chỉ có ở Kampuchea. Mỗi ngày từ 4 đến 5 giờ sáng, bạn hàng ở chợ đón mua thốt nốt từ Châu Đốc [4] để đem về bán ở chợ này. Mùa hè mà ăn một bát thốt nốt ngâm đá đường, ăn tới đâu mát ḷng mát dạ tới đó, tưởng chừng như người ốm mà được uống sâm thang vậy!
Nói đến quả thốt nốt th́ không thể không nhắc đến bánh ḅ thốt nốt. Quả thốt nốt không hái non mà để cho đến khi chín vàng, thơm nức mũi. Bột bánh ḅ trộn với nước cốt dừa và thốt nốt chín, làm thành từng ổ to bằng cái tô. Nh́n cái bánh vàng óng, những đường nứt nở căng ra như ứa từng giọt mật, vừa thơm mùi thốt nốt chín vừa thơm mùi nước dừa, chưa ăn mà đă thấy khoẻ cả người!

Trong chợ có một quán bán cá khô mà dù quư vị không thích ăn cá khô cũng nên ghé qua. Quán tên là “quán Hai Sửu”, bán đủ mọi loại cá khô và cá sấy. Những tảng khô tra thật nạc, dày và vàng bóng, những con khô cá lóc to, thịt thật dày và đỏ au, những con khô cá leo dài cả thước, nặng cả chục cân, khô cá sũ cắt khúc mỏng, mùi thơm nồng làm tôi nhớ đến món cá “hàm ủy” hấp với thịt ba chỉ và gừng thái sợi ăn với cơm gạo lúa mới. C̣n nhiều món cá khô nữa như khô cá sặc, cá đuối, cá thiều, cá ĺm ḱm, chưa kể đến các món khô nai, khô rắn, v.v...
Cá sấy được mang về từ các tỉnh biên giới Kampuchea. Nh́n xâu cá sấy có sáu con cá kết to, xếp ngay ngắn quay vào nhau như cái quạt, trông thật ngon mắt. Cá sấy có lẽ chỉ có cá kết là ngon hơn cả, v́ thịt nó rất nạc và không tanh chút nào. Bên Kampuchea có một loại quả chua, dùng thay cho me gọi là “cà-xăng.” Chẻ quả này ra, dùng th́a nhỏ múc lấy hột, pha với nước mắm, đường, tỏi, và ớt. Bóc khô cá sấy ra, bỏ da và xương, ngâm cá trong hỗn hợp nước mắm “cà-xăng” nói trên, là một món ăn vô cùng khoái khẩu, không những cho dân thích uống bia, mà c̣n cả cho bọn con gái thích ăn chua như bọn tôi. Tôi nhớ lại những năm học nội trú ở trường Providence khi xưa. Cá sấy là một món ăn rẻ tiền không được dọn cho bọn học sinh nội trú chúng tôi, nên tôi thường hay lẻn xuống nhà bếp và được sơ Martine cho một chén nhỏ cá sấy ngâm nước mắm cà-xăng và một miếng cơm cháy rưới mỡ hành từ chảo cơm lá sen. Sơ Martine dắt tôi vào trong góc th́ thầm: “Vô đây mà ăn con, coi chừng Mẹ bề trên thấy!”
Quư vị có thích ăn mắm không? Nếu thích, xin mời quư vị viếng một hàng mắm trong chợ. Thật là đủ các loại mắm: mắm thái, mắm cá lóc nguyên con, mắm các sặc, mắm tôm chua, mắm ruốc, đu đủ, dưa gang, dưa leo, cà bát ngâm mắm, v.v..., và dĩ nhiên là có cả mắm “bù-hóc” (hay “bồ-hóc”, tiếng Kampuchea gọi là “prahoc.”) C̣n một món mắm cá đặc biệt đáng được nhắc tới là mắm cá thu. Thuộc hàng cao cấp như mắm thái Châu Đốc, mắm cá thu Nha Trang hoàn toàn không có xương, thịt cá được nghiền nát và đặc sệt, màu trắng đục, bán trong chai như chai nước mắm nhĩ.

Bây giờ mời quư vị ghé qua các hàng rau và quả tươi một chút. Chợ này đặc biệt có “rau cải trời.” Rau cải trời xanh mướt, thật non, bó thành từng bó nhỏ. Cá rô đồng hay cá lóc ruộng luộc chín gỡ lấy thịt nấu với rau cải trời, cho ít gừng giă nhỏ và hành lá. Đó là món canh rau mà tôi thường hay nghĩ tới trong những năm tháng sống ở Mỹ, với câu hát ru em “Gió đưa rau cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay.” Bên cạnh rổ rau cải trời, bà hàng c̣n có rau b́nh bát, một loại giây leo trông giống như giây Ivy lá nhỏ. Rau này nấu canh với tôm tươi và thịt nạc, cho thêm ít hoa thiên lư th́ ngon tuyệt. C̣n rau ngót nữa, lá tṛn, màu xanh nhạt, non bấm ra sữa. Quư vị đă thưởng thức món canh rau ngót nấu với trứng tôm chưa?
Một món rau không thể không nhắc đến là rau rút, hay rau nhút. Đây là loại rau trồng dưới nước, lá giống như lá me, thân mảnh dẻ và mềm mại được bọc trong một lớp xốp xốp giống như bông-g̣n. Lớp “bông-g̣n” này sẽ được tuốt bỏ, phô bày thân rau non mềm, màu xanh nhạt. Rau này nấu canh cua đồng hay canh bún rất ngon. Nhiều nhà hàng ăn ở Sài G̣n bây giờ hay cho rau nhút vào canh chua. Tôi có biết một bà, mỗi lần đi Việt Nam bà đều mang trở về Mỹ một bao to, trong có từng gói nhỏ rau nhút được nhặt sạch, trụng sơ nước sôi, bỏ vào ngăn đá đông lạnh, để dành ăn dần.
Một món rau tươi du nhập từ Kampuchea là rau sadao, c̣n gọi là rau “sầu đau.” Rau này lá nhỏ, màu xanh đậm, điểm những hoa trắng nhỏ li ti như hoa ngâu (loại ngâu Kim Đồng thường được trồng ở các chùa.) Rau sadao rất đắng, so với khổ qua th́ nó đắng gấp bội. Tuy nhiên sadao trộn gỏi rất ngon. Rau được trụng sơ trong nước sôi cho bớt đắng, tuốt lấy lá và hoa, trộn với cá sấy hay cá khô nướng gỡ lấy thịt, ba rọi thái mỏng, dưa leo thái sợi, giá trụng, rau thơm, và nước mắm ớt-tỏi-chanh-đường.

Từ chợ đi ngược trở ra phía bên phải của đường Hồ thị Kỷ là khu nhà của chị Khuyên. Chị là cháu của thầy dạy toán của tôi những năm Trung học ở Nam Vang. Tuy không học chung với chị, nhưng chúng tôi thân nhau từ khi chị trở thành vợ của một người bạn thân cùng lớp với tôi.
Sau năm 1975, do hoàn cảnh sống vất vả, cơ cực, rồi bệnh nặng không được thuốc thang đầy đủ, chồng chị đă từ giă cơi đời, để lại cho chị một đàn con nhỏ. Tôi đă đến thăm nhà chị vài lần, nhưng khung cảnh lần này trông khác hẳn xưa, cửa đóng then cài. Giàn hoa giấy màu tím điểm nhụy trắng rực rỡ trong ánh nắng buổi sáng. Đang định gọi cửa th́ chị đi chợ về tới. Thấy tôi chị mừng rỡ, rối rít gọi đứa con gái sang cái quán nước nhỏ bên cạnh mua cho tôi chai nước ngọt, tôi ngăn măi mà không được.
Trước khi từ giă chị, tôi đến bên bàn thờ chồng chị. Chị Khuyên theo đạo công giáo, nhưng chị vẫn hương khói thờ chồng. Tôi thắp hương nh́n lên, trong ảnh trông anh thật trẻ, thật đẹp trai. Tôi nói với anh, “Anh Nhựt ơi, Mai đến thăm anh đây. Sáng thứ bẩy tới đây tất cả các bạn sẽ đi thăm thầy Lực. Mời anh đi chung với tụi này cho vui nhé!” Quay sang chị, tôi nói tiếp, “Ảnh chịu đi rồi đó, chị đi luôn nghe. Tụi này sẽ tới đón chị lúc 7 giờ sáng ngày thứ bẩy.” Chị cười vui, hai mắt sáng lấp lánh làm rạng rỡ khuôn mặt già nua với đôi má hóp sâu.

MAI TRÂN.

Chú thích: [1] Phnom Penh, thủ đô của Cambodia, nơi có rất nhiều Việt kiều sinh sống từ thời Pháp thuộc. [2] Tên chính thức của Cambodia từ năm 1975 đến 1991, cũng là tên gọi rất phổ thông từ xưa. [3] Tháng 3 năm 1970, tiếp theo cuộc đảo chính lật đổ Hoàng thân Sihanouk tại Cambodia, xẩy ra việc những người Cam-bốt quá khích tấn công và giết hại cộng đồng Việt kiều, dẫn tới việc hồi hương ồ ạt (về miền Nam Việt Nam) của những người này.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved