Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Vừa đúng lúc chúng tôi hoàn thành tập ảnh “Nhớ Huế” và chuẩn bị đưa lên trang PHOTO ALBUMS th́ chúng tôi nhận được bài viết mới về Huế của Mai Kim Ngọc (B.S. Vũ Đ́nh Minh) gửi tặng trang SALADE EsPRESSO.
Mỗi người Việt chúng ta, dù là con dân ruột thịt của Huế hay chỉ là người có mang chất Huế trong tâm hồn, hay chỉ là người yêu Huế và nặng ḷng với đất Cố Đô, và cho dù chúng ta mỗi người yêu Huế, nhớ Huế một cách riêng, và có một cái nh́n rất riêng tư khi nhận định về Huế xưa và nay, th́ chúng ta cũng không thể phủ nhận một sự thật: đó là, Huế măi măi và sẽ măi măi là cái chất sâu lắng và trữ t́nh nhất trong văn hóa Việt Nam.
Mai Kim Ngọc có cái nh́n và những cảm xúc riêng của ông về Huế, có thể không giống những cảm nhận về Huế của tác giả tập ảnh “Nhớ Huế”. Nhưng cách Mai Kim Ngọc nhắc đến Huế và nói về Huế lăng mạn, nhẹ nhàng đến nỗi nó khiến những ai vẫn c̣n giữ khoảng cách với Huế sẽ thấy Huế gần gũi hơn, và những ai đă yêu Huế lại càng yêu Huế nhiều hơn.
SALADE EsPRESSO.
(California, Oct 01, 2004)


HUẾ

Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách. Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ c̣n trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài G̣n học tiếp đại học và không bao giờ trở về, cho đến năm nay. Tôi đă ngần ngại nhiều. Văn chương cũng như chuyện thực ngoài đời đều như căn dặn là đừng bao giờ trở lại những cảnh cũ mà ḿnh quư mến. Từ truyện “Quê Cũ” nổi danh của Lỗ Tấn cho tới câu chuyện tầm phào với một du khách Do Thái gặp giữa hai chuyến bay tại một phi trường Đông Âu mấy năm trước, tất cả đều nhắc nhở tôi điều ấy.
Tôi vẫn không quên được người du khách Do Thái ấy, và giờ đây khi tàu sắp tới ga Huế, h́nh ảnh ông ta lại trở về trong trí tôi. Ông lưu lạc sang Mỹ từ thuở nhỏ v́ nạn Đức Quốc Xă, giờ đây trở về Ba Lan công tác cho một ngân hàng lớn của New york, luôn tiện ghé thăm sanh quán. Có chút ǵ đanh thép nơi ông, có lẽ tại nghề nghiệp ông thường ngày đ̣i hỏi cứng rắn lạnh lùng. Vậy mà khi nhắc đến ghetto cũ, ông bất thần thay đổi sắc diện. Buông thả cho những xúc động dồn nén sau chuyến thăm quê, ông bộc lộ nỗi ḷng với người bạn đường mới quen. Ông kể về nhà cũ của ông, một ṭa biệt thự khang trang cha ông xây hồi gia đ́nh làm ăn trù phú, bây giờ đă bị ngăn thành nhiều căn hộ nhỏ chia cho cán bộ ở... Pḥng ốc suy sụp tồi tệ không ai buồn sửa chữa. Cây táo chính tay ông trồng đă không c̣n dấu tích, chắc đă cỗi hay đă bị chặt làm củi vào một mùa đông thiếu sưởi nào đấy trong những năm cùng quẫn của Chủ nghĩa Xă hội ở Ba lan... Hàng xóm láng giềng lạnh nhạt khi ông trở về. Họ c̣n có vẻ sẵn sàng gây hấn v́ sợ ông đ̣i lại nhà... Thật ra người cũ chẳng c̣n ai ngoại trừ một ông già độc nhất ngày xưa tuổi trẻ đă “dấn thân”, bây giờ dấm dẳn như người bất đắc chí... Bà vợ tuy có ấm áp hơn ông chồng, nhưng niềm nở săn đón chẳng qua là để nhập đề cho việc rủ ông mang tiền về đầu tư... Họ cũng cho ông hay là cô bạn gái hàng xóm của ông đă bị Đức bắt đi cùng với bố mẹ, và cả gia đ́nh ấy đă chết thiêu trong trại tập trung... Mắt đỏ hoe, ông tâm sự, “Tôi đoán anh là người Việt lưu vong... Đúng phải không? Vậy th́ nghe tôi đi, đừng bao giờ trở lại cố quốc nhé. Buồn lắm...”
Đó là chuyện ngoài đời. C̣n chuyện văn chương th́ tôi đă bị ám ảnh từ lâu bởi h́nh ảnh Lỗ Tấn không quản hai ngàn dặm hành tŕnh để về làng cũ mà không t́m lại được quê cũ, để gặp lại Nhuận Thổ, mà không t́m lại được người bạn thân thuở thiếu thời.
Tàu đến Huế vào buổi trưa. Tôi nh́n qua cửa sổ chỉ thấy sân ga tầm thường, đă xoàng xĩnh lại vô trật tự. Tất nhiên là nó không to lớn ngăn nắp và tiện nghi như ga của những thủ đô ngoại quốc như Paris hay Washington, mà cũng không duyên dáng như những ga nhỏ trên một triền núi tuyết phủ, hay một vùng thôn dă mộc mạc...
Tệ hơn nữa, nó không giống ǵ cái ga Huế trong trí nhớ của tôi, cái ga Huế của rạo rực sắp được về với gia đ́nh vào dịp Tết hay Hè, hay của nôn nóng gặp lại bạn cũ những mùa nhập học. Cảnh cũ đă vậy, chuyện người cũ cũng không khả quan ǵ hơn. Tôi nghe lại được giọng Huế ngày xưa các bạn vẫn nói, nhận diện lại được những gói kẹo mè xửng Huế, những chùm nem Huế, những chai xa-xị Huế trong mấy quầy hàng giải khát. Thậm chí những bao thuốc lá Huế với nhăn hiệu “Cố Đô”, chưa sản xuất hồi tôi rời Huế, cũng không làm tôi xa lạ...
Nhưng rơ ràng là những người Huế ở sân ga này không nhận tôi là cố nhân. Những cái nh́n ṭ ṃ của họ – lộ liễu hay kín đáo – nhắc tôi là Việt kiều, là những cái ǵ xa lạ... Tôi đoán được phần nào suy nghĩ của họ, và thái độ của họ tất đă bị chi phối bởi những thành kiến hay kinh nghiệm tốt xấu cũ với những Việt kiều trở về trước tôi...
Vậy mà tôi có cả một kho tàng những chuyện cố nhân cố sự cần chia xẻ, những câu chuyện tôi sẵn sàng ôn lại trong dịp thăm viếng cố đô này... Biết bao kỷ niệm của cả một thời trung học... Nào ngày xưa vào mùa mưa, đi học phải lội nước qua Đập Đá... Nào những thứ bẩy chủ nhật lấy ca-nô đi từ Vĩ Dạ sang bến Đông Ba để uống một tách cà phê Phấn hay xem một xuất xi-nê Tân Tân... Nào cảnh đêm sao trên sông Hương hay chuyện bắt ve trên mấy gốc sung Vĩ Dạ... Nào chuyện đạp xe lên Kim Long thăm bạn, không phải v́ mối t́nh học tṛ, mà v́ nhà bạn có vườn thơm và thế nào bà mẹ bạn cũng bẻ thơm gọt cho ăn... Nào chuyện kèm “trẻ” tại gia... Chuyện này chuyện nọ nôn nức trong ḷng, ai biết, mà biết kể với ai giữa cái ga Huế này...
Trước khi đi, một người bạn ở Cali đă lo giới thiệu chu đáo với người nhà ở Huế để hướng dẫn tôi trong chuyến thăm cố đô. Nhưng v́ sơ xuất của chính bản thân cũng như của bưu điện, tôi lạc lơng giữa sân ga Huế, ngơ ngác và mệt mỏi trong cái nóng nung người của cố đô tháng sáu. Chẳng mấy chốc, tôi trở thành đối tượng cho giới phe phẩy bắt đầu xấn tới đề nghị những dịch vụ, từ chính thức cho đến bán chính thức, lương thiện hay xem xém lươn khươn. Tất nhiên những phiền toái như vậy rất thông thường cho mọi bến ga bến tàu trên thế giới, nhưng dưới nhiệt độ gay gắt của trưa hè nhiệt đới, đối chiếu với sự chờ mong ít nhiều lăng mạn của người trở về, sự việc có khả năng tạo ra bực dọc đáng kể...

****
Sau cùng, người hướng dẫn tới, giải thoát cho tôi khỏi những khó khăn nhất thời của chuyến thăm quê. Từ đó trở đi mọi chuyện thuận lợi. Trong chốc lát, tôi có pḥng trọ chu đáo, có xe đi, có tài xế, và có một chương tŕnh tham quan đầy ư nghĩa, phản ảnh kiến thức thâm sâu cũng như ḷng hiếu khách tế nhị của bạn.
Trên đường về khách sạn, tôi nhắc đến những chuyện chung chung về Huế, về những món ăn Huế như tré như bánh bèo Tây Thượng như bánh canh Nam Phổ, hay những lăng tẩm cung điện cùng những địa danh c̣n nhớ lơm bơm qua một vài câu ḥ phổ thông của Huế... Tôi không ngờ anh bạn hướng dẫn đă kín đáo ghi nhận những chi tiết ấy để bổ xung cho chương tŕnh. Và rất tế nhị, những địa danh và những món ăn tôi vô t́nh kể ra lần lượt xuất hiện trong mấy ngày thăm Huế của tôi. Tôi rất cảm động, chỉ mong bao giờ anh bạn có dịp sang Mỹ, tôi sẽ hết ḷng đáp lễ bằng một chương tŕnh tham quan chu đáo như vậy.
Về lăng tẩm, tôi thích nhất là lăng Tự Đức, ông vua cuối cùng của một nước Việt Nam chưa mất chủ quyền, một ông vua siêng năng hiếu học có thiện chí nhưng sinh chẳng gặp thời, một ḿnh gánh chịu những khó khăn dồn lại từ những đời trước, về ngoại giao cũng như đối nội...
Có người mong ước giá mà vua Tự Đức khôn ngoan như người Việt bây giờ về chính trị thế giới, về cách đối xử với giáo dân hay với người Pháp, hay giá nhà vua đă làm những chuyện canh tân như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật, th́ vận mệnh đất nước chắc đă đi theo một chiều hướng khác.
Nhưng đấy là những chuyện “nếu thế này” hay “nếu thế nọ” của lịch sử. Tôi chỉ thấy cái đẹp thanh tú nho nhă của nhà vua, và cái chất thơ thoát ra từ những chi tiết nhỏ riêng biệt cũng như cái không khí chung bao quát của Khiêm Lăng.
So sánh với đền đài của những nền văn minh khác như Hy Lạp hay La Mă, Khiêm Lăng rơ ràng đă khai triển cái đẹp theo một đường hướng khác. Ở đây cột kèo mảnh dẻ trang nhă như tháp bút, mấy con rồng uốn khúc trên mái nhà mềm mại như sương khói đang phủ mặt hồ sen. Không, đây không phải là Athenes hay Rome với những mái nhà nặng nề vuông vức, những cây cột cẩm thạch vĩ đại sừng sững dựng đứng lên nền trời, thách thức thiên nhiên với những đường nét cứng rắn một cách không khoan nhượng như những định luật kỷ hà học...
Ngắm cảnh ở Khiêm Lăng, tôi cảm thấy những chai sạn của đời sống thực tiễn hàng ngày như biến mất, để nhường chỗ cho những ǵ thâm sâu êm đềm thanh thoát nhất. Nhưng nếu ai hỏi những cái thanh thoát ấy ở đâu mà có, th́ tôi không minh định được. Phải chăng đó là mùi hoa đại trồng dọc những lối đi, hay hương sen đang nở trong những ao hồ nhan nhản trong khuôn viên lăng... Hay là cái mềm mại nhung gấm của rêu xanh mọc viền theo những phiến đá vuông vức lát sân lăng hay bám trên những bức tường cổ kính... Hay là nắng chiều phản chiếu trên men ngói những mái nhà uốn cong mềm mại...
Tôi trân trọng nghe anh bạn đọc trên bia đá những lời thành khẩn và nhún nhường của chính nhà vua khi b́nh về triều đại ḿnh. Không mảy may suy tôn ḿnh, những lời nhà vua tự kiểm thảo quả thật xứng danh với tên Khiêm Lăng mà ngài đă chọn cho nơi an nghỉ cuối cùng...
Anh bạn nhắc lại bài thơ tuyệt tác nhà Vua đă làm để khóc Bằng phi. Từ thuở đi học tôi đă mê bài thơ ấy, nhất là hai câu năm và sáu:
Đập cổ kính ra t́m lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi

Tôi thấy gần gũi với nét t́nh tứ lăng mạn rất người mặc dù bản chất của bài thơ là một niềm tiếc thương cao sang vương giả. Mặt khác, tôi nghĩ nó cũng đem lại nét vương giả cao sang cho nỗi tiếc thương của mọi thiên t́nh sử chung của tất cả mọi người. Mỗi tấm gương tróc thủy c̣n sót lại trong Khiêm Lăng bỗng như có thần, tựa hồ như một ma lực huyền ảo bắt ta nh́n vào, mơ hồ hy vọng thấy được dung nhan liêu trai của một trang quốc sắc thiên hương yểu mệnh. Và tôi nghĩ đến tất cả những chiếc gương của tất cả những t́nh lang bất hạnh trên thế giới.
Tôi ít có cảm t́nh với lăng Khải Định. Khuyết điểm của lăng, như nhiều người đă nhận xét, nằm trong sự Tây hóa kỳ dị và vụng về của nhà vua. Nghe nói lăng Đồng Khánh xây cất dưới triều Khải Định cũng bị ảnh hưởng đáng tiếc bởi khiếu thẩm mỹ kỳ quặc này...
Tuy nhiên, lăng Khải Định cũng có một sự việc làm tôi ghi nhớ, là căn nhà gỗ ọp ẹp sau lăng, nơi trú ngụ của một bà phi già. Tôi được gặp bà phi, một bà cụ lưng đă c̣ng, nhưng dung nhan c̣n phảng phất những nét đều đặn của một thời đă qua. Lúc tôi gặp, phi đang ngồi xổm, chân đất, lúi húi giặt quần áo trên phiến đá xanh kê gần vại nước.
Phi được trả lương, nghe nói tương đương với vài Mỹ kim một tháng, với nhiệm vụ chăm lo hương đèn cho vua. Mỗi buổi sáng, phi pha trà mới và têm trầu tươi dâng lên bàn thờ quân vương, đều đặn như vậy đă hơn nửa thế kỷ. Trong cảnh kinh tế eo hẹp của đất nước, sinh hoạt của phi cũng túng thiếu lắm, và chút quà du khách tặng cũng kể như một cải thiện quan trọng cho ngân sách khiêm nhượng của phi.
Lại nghe nói đức vua suy nhược nam tính từ nhỏ, và cuộc sống của phi khi vua c̣n cũng như sau khi vua băng hà, kể như chay tịnh như cuộc sống của một nữ tu. Nh́n phi, tôi nghĩ đến một kiếp người thiệt tḥi, một cuộc đời lăng phí, một mất mát đáng thương cho cuộc sống, dù là cuộc sống riêng của một người đàn bà ít may mắn. Tôi thoáng thắc mắc phi là tiểu thư con vị quan nào, ngày bé quen ai biết ai trước khi được – hay bị – mang vào cung cấm... Tôi ngắm phi, cố gắng h́nh dung một trang quốc sắc, đă có hồi trẻ trung vui tươi, đă có hồi mơ ước một đời sống lứa đôi b́nh thường hạnh phúc... Nhưng vô hiệu... Trước mặt tôi chỉ là sự nghiệt ngă của một số phận bất hạnh và tấm ḷng chung thủy mà tôi sẽ không bao giờ hiểu nổi...
Sau lăng tẩm là Hoàng Thành với các đền đài dinh thự đang hay sắp được trùng tu nhờ sự trợ giúp của Liên Hiệp Quốc. Tôi leo lên kỳ đài, ngắm nh́n cột cờ cao, bất giác nghĩ tới những người lính trẻ đă chết vào đêm kinh thành thất thủ năm xưa hay trận đánh Mậu Thân gần đây, và những lá cờ khác nhau đă bay ở đấy, kể cả lá cờ tam tài của Pháp...
Tôi biết sẽ không nhớ hết tên hay sự tích của mỗi dinh thự anh bạn kể cho nghe, trừ con đường Trung Lộ lát đá phiến xanh và trồng hoa đại, với những hồ sen hai bên đang trổ bông thơm ngát.
Rồi tôi thăm Cấm Thành, với những khu khác nhau, ngày xưa dành cho những nhân vật khác nhau của hoàng tộc. Tôi ngạc nhiên ghi nhận mức sống không lấy ǵ làm xa hoa của hoàng gia nước ta thuở ấy. So với cung điện của Pháp tại Paris, của Trung Hoa tại Bắc Kinh, thậm chí của những nước nhỏ hơn như Áo hay Hung bên Âu Châu, các vua chúa Việt xem ra sống thanh đạm lắm.
Cảm giác mạnh nhất nơi tôi khi thăm cung điện ở Huế là sự cô đơn của hoàng tộc ngày xưa trong Cấm Thành. Tôi tưởng tượng cuộc sống thiếu sinh khí của những công chúa những hoàng tử sau những tường cao và hào sâu hay sau những cánh cửa lim nặng nề. Lại c̣n những phi tần tháng ngày chôn vùi tuổi xuân, có khi một đời chưa được thấy “mặt rồng”. Nơi vườn thượng uyển h́nh như chim ít hót và ánh mặt trời cũng ít sáng. Và tôi nghĩ tới những nhân vật của Cung Oán, hay những v́ vua bị bức tử không phải hiếm hoi trong lịch sử triều Nguyễn... Số kiếp của những người sinh ra trong hoàng tộc không hẳn là không nặng nề.

***
Cuộc thăm viếng kết thúc bằng chùa Linh Mụ. Nơi đây, tôi đă bắt được linh hồn của cố đô mà tôi đă không t́m lại được nguyên vẹn trong những đền đài cung điện vừa thăm viếng xong.
Kỳ lạ nhất là linh hồn ấy tôi không t́m thấy trong sân chùa, trong lầu chuông với chiếc chuông vĩ đại mà hồi trọ học ở Bến Ngự mỗi khi thức giấc thật sớm để học bài tôi vẫn thường được nghe, hay cả trong những tượng Phật bày nơi chính điện... Quả thật, hôm ấy cửa thiền tạm mất cái không khí trầm tư lắng đọng thường lệ v́ một biến cố lịch sử. Một khoảng sân chùa c̣n xám đen v́ một Phật tử vừa mới tự thiêu mấy hôm trước đó, và sự khẩn trương c̣n in rơ trên nét mặt của các sư săi.
Tôi chỉ t́m lại được cái chất Huế khi ra khỏi chùa ngồi nghỉ tại tam cấp trước cửa tam quan. Trước mặt tôi là sông Hương. Lúc ấy chiều đă xuống, và những rặng tre bên kia cánh đồng Nguyệt Biều đă bắt đầu lẫn vào bóng hoàng hôn. Những ngọn đồi gần sậm lại thành màu quan san, c̣n mấy rặng núi xa th́ đă mất đường nét và nhuộm màu tím than như sẵn sàng đón chờ đêm tới.
Trên trời lác đác vài v́ sao mọc sớm, và đôi ba chiếc thuyền trên sông đă lên đèn. Tôi lẩn thẩn nghĩ không biết họ về đâu, chở ǵ, như ngày xưa thường lẩn thẩn nghĩ ngợi mỗi khi có dịp ngắm những con đ̣ qua lại trên sông Hương.
Một chiếc thuyền nhỏ bơi qua gần bờ làm tôi chú ư. Trên thuyền, một cô gái c̣n trẻ lắm, chắc độ mười sáu mười bẩy, đang chèo. Cô chèo đứng, bằng một mái chèo, lối chèo đặc biệt của Huế, bán diện hiện ra rơ ràng trong chút nắng cuối cùng của ngày. Cô vươn ḿnh theo mái chèo, chiếc áo cánh ngắn kéo căng ôm lấy người, tấm thân con gái Huế mới lớn kín đáo khiêm nhường mà đầy nữ tính... Và cô cất tiếng ḥ:
“Thuyền về Đại Lược
Nốt ngược Kim Luông
Nơi đây chỗ rẽ cơi ḷng...
Gặp nhau c̣n biết trên sông bến nào...”

Quá khứ như hiện về, tôi tưởng lại xứ Huế ngày xửa ngày xưa, hơn ba thập niên về trước, giữa những hôm học thi, có lần tôi đă được nghe một người con gái Huế ḥ như vậy... Và trong huyền ảo của giây phút, tôi khám phá ra người con gái ấy cũng là cô gái bây giờ...
Cô là ư là hồn của Huế, của chất Huế hiện thân thành người... Cô vĩnh viễn mười sáu mười bẩy tuổi, và cô ḥ hôm nay cũng như cô vẫn ḥ hơn ba mươi năm trước hay ba trăm năm trước...
Cô tiếp tục ḥ, tiếp tục chèo... Tấm thân bé bỏng như con chim nhỏ, cô đè lên mái chèo mà như thể mái chèo tự nó kéo cô theo, mềm mại duyên dáng như ḍng nước sông Hương. Tôi vẫn biết Hương giang bao giờ cũng êm ả, nhưng tối nay không gian như không c̣n định hướng và tôi không biết sông chẩy từ Đại Lược về Kim Luông, hay từ Kim Luông về Đại Lược...
Thuyền cô xa dần nhỏ dần, phút chốc chỉ c̣n mấy nét chấm phá trên mặt sông phẳng lặng, và trong bóng đêm vừa đổ xuống, ngọn đèn nơi mũi thuyền cô lấp lánh như một v́ sao...
Bỗng chốc tôi khám phá ra câu trả lời cho mối thắc mắc mơ hồ bấy lâu... Nhờ cô, tôi đă biết những con đ̣ trên sông Hương chở ǵ... Dễ lắm... Chúng chở những v́ sao mượn từ trời sao xứ Huế, và quan trọng hơn nữa chúng chở câu ḥ của người con gái Huế...
Mười năm nữa, năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa, hay măi măi, khi bà phi già trên lăng Khải Định đă chết từ lâu, khi thành quách cung điện Huế chỉ c̣n là những cổ vật không công dụng thực tiễn, khi ga Huế trở thành một nhà ga hiện đại với những chuyến tàu siêu vận tốc, khi những sôi động kinh tế hay chính trị hiện tại chỉ c̣n là những trang sử...
Mười năm nữa, năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa, hay măi măi về sau, giá dù người Huế có quên ăn nem Huế, quên kẹo mè sửng, quên bánh canh Nam Phổ... và những lưu dân nhớ Huế phải về sưu tập tất cả những tấm gương cổ để đập ra mà t́m lại những ảo ảnh ấy, th́ tôi vẫn đoan chắc rằng linh hồn của Huế vẫn c̣n trong h́nh bóng một cô gái nhỏ trên sông Hương, tối tối chở một v́ sao mượn từ trời sao xứ Huế, và chở tiếng ḥ của cô...
Về đâu ư? Đại Lược hay Kim Luông? Hay về một bến tiềm thức sâu xa của những người đă sống ở Huế, hay đúng hơn những người v́ một duyên nợ kiếp nào đă nhiễm chất Huế vào hồn...

MAI KIM NGỌC.
(Hè 1993)

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved