Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Bên ngoài văn học, Mai Kim Ngọc là bác sĩ Vũ Đ́nh Minh. Trong thế giới văn học, Mai Kim Ngọc vừa là nhà văn vừa là nhà phê b́nh văn học; Và trên cả hai lĩnh vực ấy, ông vừa bộc lộ một tâm hồn lăng mạn vừa chúng tỏ một bản lĩnh vững vàng và sắc cạnh.
Cuối mùa xuân 2004 năm nay, ông và vợ – chị Vũ Đ́nh Christine – cùng tham gia chuyến du-lịch “Con đường Tơ lụa” kết hợp với đi thăm một vài thành phố và thị trấn cổ trong miền Giang Nam (Trung Quốc) do VOYAGES SAIGON tổ chức. Trong thời gian đi thăm miền đất thơ mộng ở phía nam sông Dương Tử, chúng tôi đă có dịp đến thăm ngôi nhà nhỏ của văn hào Lỗ Tấn ở Thượng Hải và ngôi chùa Hàn Sơn nổi tiếng ở Tô Châu.
Sau chuyến du-lịch với nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ ấy, Mai Kim Ngọc đă có nhă ư gửi tặng trang SALADE EsPRESSO bài viết ngắn “Về một tiếng chuông”.
Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài viết mới này của Mai Kim Ngọc, đồng thời được đăng trong tạp chí Y-Tế, số 9, Bộ X (Sep 2004).
SALADE EsPRESSO.
(California, Sep 15, 2004)


VỀ MỘT TIẾNG CHUÔNG
(Du kư Giang Nam 2004)

Tôi được nghe một tiếng chuông đẹp đă nửa thế kỷ nay, bây giờ vẫn chưa quên. Nó có một bối cảnh đặc biệt. Đó là một đêm về sáng. Trăng sắp lặn trên bến sông. Tiếng quạ thảng thốt kêu, đánh thức một du khách đang chập chờn giấc điệp trong chiếc thuyền con neo gần cầu. Rồi mọi vật yên tĩnh trở lại, nhưng khách đă thức hẳn để đối diện với chứng mất ngủ bấy lâu đă thành măn tính. Khách nh́n ra ngoài khoang chỉ thấy xa xa bên bờ phong mấy ngọn lửa chài leo lét buồn hiu trong sương... Kỳ diệu thay, chính lúc ấy tiếng chuông chùa vẳng tới. Khách sững sờ như được nghe chuông lần đầu. Chuông ngân nga trong đêm xoa dịu tâm hồn làm mọi phiền năo bỗng tan biến. Giạt dào thi tứ, khách ngồi dậy lấy giấy bút chép lại bài thơ mà hơn 12 thế kỷ sau vẫn c̣n nguyên vẻ đẹp tinh khôi. Tiếng chuông ấy là tiếng chuông chùa Hàn San, du khách là Trương Kế, bài thơ tuyệt vời là “Phong Kiều Dạ Bạc”.
Lần ấy tôi được “nghe” chuông trong một giờ Hán tự, khi giáo sư Hán học diễn giảng bài Đường thi. Tuy không cần thiết với nhiều độc giả, tôi cũng xin chép lại bài thơ và bản dịch của Trần Trọng Kim như một khởi điểm cho câu chuyện.

Nguyên bản của Trương Kế:
Phong Kiều Dạ Bạc
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Trần Trọng Kim (1) & (2):
Đêm Đậu Thuyền Ở Bến Phong Kiều
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây băi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Tôi nhớ măi bài thơ, có lẽ v́ cảnh thơ giống một cảnh thật tôi đă được chứng kiến cũng khoảng thời gian trung học ấy, một hôm cắm trại. Đó là cảnh sông Hương gần Kim Long khoảng quá cầu Bạch Hổ. Đêm ấy tôi thức giấc lúc gần sáng, không phải có tâm sự ǵ mà chỉ v́ mới vào hướng đạo chưa quen ngủ lều. Cũng có bến nước, có tiếng quạ kêu đêm, có ánh trăng mờ trong sương, có lửa chài leo lét bên phía Nguyệt Biều đối diện, và có mất ngủ. Và tôi đă được nghe tiếng chuông chùa Linh Mụ vào khoảng thời gian không gian tịch mịch đó... Tôi đem theo cảnh vào lớp học, và “Phong Kiều Dạ Bạc” tả giùm tôi cái đẹp cái buồn, cái thanh thoát đă mục kích và cảm nhận mà không tả lại được.

***
Về sau tôi được đọc nhiều bản dịch khác của “Phong Kiều Dạ Bạc”, bằng Việt ngữ, Anh ngữ và Pháp ngữ. Tôi xin chép lại một số những bản dịch đó (3) trong phần phụ lục để tiện bàn bạc về bài thơ. Nói chung, các bản dịch thường sai biệt rất nhiều so với nguyên tác. Hai bản Anh và Pháp ngữ đều lầm “Hàn San” là sơn danh, và ngôi chùa bị đặt lên một ngọn núi lạnh lẽo (“montagne froide” trong bản Pháp ngữ), hay chính ngọn núi Hàn San (“Cold Mountain” trong bản Anh ngữ). Xem ra người dịch không biết Hàn San là tên chùa, lấy từ tên nhà sư Hàn San. Tất nhiên là họ cũng không biết sự việc phức tạp hơn là Hàn San cũng không phải tên thật của sư. Trước khi đến chùa quy y, sư đă là đạo sĩ tu tiên trên đỉnh Hàn San của rặng Thái Sơn. Riêng bản Pháp văn xem ra c̣n có câu què lơ lửng bơ vơ v́ thiếu văn phạm (“des caws d’une corneille par le gel”). Đáng lưu ư là mức độ sáng tác rất bạo của hai bản Anh và Pháp ngữ. Về cụm từ “ngư hỏa”, khi các bản Việt ngữ c̣n rón rén giữa lửa chài, đèn chài, trên thuyền hay trong thôn, th́ các dịch giả Tây phương không ngần ngại đưa vào thơ Trương Kế một ngư phủ bằng xương bằng thịt và cho y quơ bó đuốc dưới bóng hàng cây phong (“Under the shadows of maple-trees a fisherman moves his torch” và “Sous les ombres des érable-arbres un pêcheur se deplace avec sa torche”). Nhân vật không hộ khẩu này không có lư do ǵ để cư trú trong “Phong Kiều Dạ Bạc”. C̣n nữa, ngọn đuốc trong tay y là nguồn sáng mạnh nhất trong cảnh trăng lặn sương mờ, lại chiếu từ thấp lên cao, nên hàng phong sẽ không có bóng. Sự phiên dịch đă thừa phóng túng lại thiếu suy nghĩ.
Tôi cũng được đọc các lời b́nh giải của các bậc văn nhân Trung quốc về “Phong Kiều Dạ Bạc” nhờ Nguyễn Quảng Tuân đă tóm lược lại (4). Những lời b́nh giải ấy nêu lên khá nhiều vấn đề, từ sơn danh, địa danh, cùng địa h́nh địa vật của bến Phong Kiều... Phần lớn những vấn đề ấy có lẽ là do các văn nhân đă không tới tận nơi để mục kích cảnh chùa Hàn San và bến Phong Kiều. Cụm từ “ô đề” bị hiểu là sơn danh, và “nguyệt lạc ô đề” thay v́ là “trăng lặn, quạ kêu” lại có nghĩa là “trăng lặn trên núi Ô Đề”. Cụm từ “sầu miên” bị hiểu là núi Sầu Miên và núi được đặt đối diện với chùa Hàn San.
Đến đây Phong Kiều đă có ba trái núi. Phong Kiều c̣n được thêm trái núi thứ tư là núi Cô Tô, nơi Ngô Phù Sai xây đài vinh hiển nàng Tây Thi cả mấy thế kỷ trước công nguyên. Ngoài núi lại c̣n thành lũy. Trong một bản dịch Việt ngữ, “lũy Cô Tô” xuất hiện, làm công sự pḥng thủ thành Tô Châu cách đấy mấy chục cây số bay về đậu sát Hàn San Tự. Có lẽ phải mở dấu ngoặc ngay đây là cả thành lũy này và 4 ngọn núi kia đều là hoang tưởng. Với du lịch Trung Quốc trở nên dễ dàng, chúng ta chỉ cần đến Tô Châu đứng nh́n phong cảnh 360 độ quanh ḿnh tại năm ba địa điểm khác nhau quanh cầu Phong Kiều và trong khuôn viên chùa Hàn San để không thấy một ngọn núi nào trong tầm mắt. Ngoài ra, Trương Kế ngắm cảnh từ thế nằm rất thấp trong khoang thuyền, ngoài mấy ngọn đèn ngư phủ và rặng phong trên bờ gần đấy, có lẽ ông không thấy ǵ xa hơn. Có thể ông không thấy cả đỉnh bảo tháp của chùa.
Về tương quan giữa Trương Kế và tiếng chuông, sự sai biệt cũng không nhỏ từ tác giả sang dịch giả, hay từ dịch giả này sang dịch giả khác. Trong nguyên bản, tiếng chuông làm chủ từ và chủ động “đến” thuyền khách. Ngược lại, trong nhiều bản dịch Việt ngữ, th́ tiếng chuông “được” nghe, và trở thành thụ động trong vai túc từ.
Rồi có ngưởi c̣n bất đồng ư kiến với Trương Kế về chuyện quạ không kêu và chuông không đánh ban đêm. Tôi nghĩ những thắc mắc này ta có thể khẳng định bỏ qua, v́ bản thân tôi đă được nghe quạ kêu đêm, và chùa có thỉnh chuông khuya, nhất là khoảng 4 giờ sáng khi tăng ni bắt đầu tọa thiền hay tụng niệm.

***
Mặc dầu những vấn đề trầm trọng từ phiên dịch đến chú giải kể trên, bài thơ xem ra vẫn tới người đọc như một bài thơ hay. Người Tây phương đọc các bản dịch “Phong Kiều Dạ Bạc” xem ra vẫn thú vị, và người Hoa vẫn thấy nguyên bản như một báu vật của một đất nước với mấy chục thế kỷ thi ca. Và chúng ta đọc các bản dịch ra tiếng Việt, thường thường vẫn xúc động v́ cái buồn và đẹp của bài “Phong Kiều Dạ Bạc”. Hiện tượng này đáng suy ngẫm v́ thường t́nh trong một bài thơ hay mỗi từ mỗi tứ đều mỗi quan trọng, thay đổi một chữ có khả năng thương tổn đến toàn bộ bài thơ.
Làm sao giải thích hiện tượng này? Phải chăng giá trị của “Phong Kiều Dạ Bạc” không dựa vào những từ hay tứ đă bị tổn thương. Nó không lệ thuộc vào việc chùa có nằm trên núi hay không. Nó không lệ thuộc vào việc “ngư hỏa” là ngọn đèn le lói hay bó đuốc bập bùng, ánh lửa trên thuyền hay ngoài bến hay trong xóm chài. Núi “Sầu Miên” hay núi “Ô Đề” có hay không cũng không v́ vậy mà bài thơ dở đi. Núi Cô Tô với Cô Tô đài của Tây Thi mười thế kỷ trước có bay về tọa lạc ngay bên chùa Hàn San, th́ bài thơ vẫn giữ được gần như toàn bộ khả năng dựng ra cái đẹp và tạo ra xúc cảm.
Ít nhất là hơn nửa số 28 chữ của 4 câu tứ tuyệt đă bị xâm phạm cách này hay cách khác. Cốt lơi nào đă thoát khỏi sự tha hóa để giữ được vẻ đẹp của bài thơ nguyên vẹn, sau những lần phiên dịch hay chú giải? Đặt xong câu hỏi ta thấy ngay hai điều trong bài thơ đă được mọi người tôn trọng, là Trương Kế mất ngủ và gần sáng ông nghe được tiếng chuông chùa. Tôi nghĩ cốt lơi này đă bảo tồn giá trị của bài thơ. Nên chi muốn lănh hội được hết cái hay của bài thơ, tôi nghĩ phải lănh hội được nguyên do và mức độ trầm trọng của bệnh mất ngủ của Trương Kế. Cái tâm càng khốn khổ trằn trọc dày ṿ bao nhiêu, th́ cái an lạc khi phục hồi được lại càng sảng khoái bấy nhiêu.

***
Giờ Hán tự năm xưa, tôi chỉ được biết Trương Kế đậu tiến sĩ và ra làm quan dưới triều Đường Minh Hoàng. Tôi không có thông tin ǵ hơn về hoàn cảnh và tâm sự của ông đêm Phong Kiều Dạ Bạc. Nên chi thủa học tṛ, với kinh nghiệm sống c̣n đơn sơ, tôi hiểu thơ Trương Kế ở một mức độ rất mỏng, và như đă kể, nhớ được v́ cảnh trong thơ giống cảnh thật t́nh cờ được mục kích tại sông Hương. Với năm tháng, tâm sự có phức tạp hơn, những cơn mất ngủ có chiều dày hơn, tôi thấm ư bài thơ hơn, nhưng sự thưởng lăm vẫn không vượt quá mức độ chung chung, cho đến chuyến đi Giang Nam cuối xuân 2004.
Chuyến này tôi có may mắn đi chung với Trần Chính (8). Anh am thông văn học Trung quốc, tŕnh bày chuyện ǵ lại cũng thứ tự mạch lạc. Riêng tại Tô Châu tức là thành Cô Tô cũ của “Phong Kiều Dạ Bạc”, Trần Chính lại có thêm người phụ tá Trung Quốc tên Từ, văn hóa cao, vốn liếng Anh ngữ thâm hậu mà cách phát ngôn lại rất chuẩn. Qua hai người tôi được biết tiểu sử Trương Kế nói chung và tâm sự của nhà thơ khi ghé Tô Châu năm 776 nói riêng. Xuất xứ này làm cho sự thưởng lăm “Phong Kiều Dạ Bạc” tăng gia bội phần, cũng như giúp tôi hiểu tại sao bài thơ vẫn hay dù bị tổn thương nhiều đến thế.
Trương Kế tài cao nhưng sinh chẳng phùng thời. Ông đậu tiến sĩ cũng như tới Trường An làm quan quá trễ để dự phần vào cái triều đ́nh hoa gấm của Đường Minh Hoàng, vị vua đa tài đa tật. Ông chưa kịp hưởng bổng lộc ǵ th́ loạn An Lộc Sơn bùng nổ. Vua và triều đ́nh chạy về Tứ Xuyên, bản thân Trương Kế phiêu dạt về Giang Nam để một đêm định mệnh ghé thuyền lại bến Phong Kiều.
Với kiến thức mới, bài thơ bây giờ dựng ra một đêm “Phong Kiều Dạ Bạc” khác, rộng hơn dày hơn. Về đại thể, cảnh trí vẫn c̣n đôi nét cũ. Trương Kế vẫn thức giấc v́ tiếng quạ kêu sương. Và khi mọi vật yên tĩnh trở lại th́ nhà thơ vẫn một ḿnh trong đêm tối đối đầu với cái tâm sự bất an của ḿnh.
Nhưng bây giờ tôi hiểu tâm sự thi sĩ không c̣n bất an một cách đơn giản nữa. Một năm chạy loạn, vị quan nhỏ chưa có dịp tích lũy bổng lộc tài sản ǵ đáng kể đă trải qua những ǵ, đă thấy những tàn bạo ǵ chém giết ǵ, đă vất vả nhục nhă bao nhiêu. Ông đă nếm những bạc bẽo ǵ của nhân t́nh thế thái lúc đổi đời. Hiện tại đen tối, tương lai mù mịt, thế sự ngả nghiêng, bản thân bơ vơ, những khổ ách ấy làm chứng mất ngủ của Trương Kế khác cái mất ngủ thông thường của một bậc văn nhân trong một chuyến nhàn du phong lưu sang trọng.
Ngoài khoang vẫn là trăng lặn trong sương, nhưng nỗi ḷng thấm vào cảnh, và những đốm lửa chài lấp lánh dưới hàng phong xa không chỉ c̣n buồn hiu, mà trở thành những con mắt mất ngủ đang trằn trọc trong thần thức khắc khoải của chính ông. Cũng như mọi đêm, ông biết ông sẽ thao thức đến sáng. Và ngày mai khi ông dương buồm lên đường, tâm sự bất an này sẽ theo ông tới những bến nước mới để tạo ra những cơn mất ngủ mới...
Chính lúc đó tiếng chuông chùa Hàn San vẳng đến thuyền. Tiếng chuông bây giờ không chỉ c̣n là một âm thanh đẹp, mà tuyệt vời và mầu nhiệm. Tôi không nghĩ nó đánh thức Trương Kế ra khỏi giấc ngủ thể xác như một chiếc đồng hồ báo thức. Thật ra chuông đánh thức ông ra khỏi một cơn mê trừu tượng và nặng nề hơn, cơn mê bấy lâu đă trói buộc ông vào những ngọc ngà tơ lụa, những vũ khúc nghê thường, những dạ yến, những giai nhân tài tử của cái triều đ́nh huy hoàng của Đường Minh Hoàng. Cũng cơn mê này hiện tại đang trói buộc ông vào khổ ách v́ đă mất đi những quyền lợi, những ưu tiên mà ông đă hay lẽ ra sẽ hưởng thụ tại triều đ́nh, kể từ ngày An Lộc Sơn nổi loạn. Cơn mê tan theo tiếng chuông ngân trong đêm yên tịnh, và cái tâm bất an của con người lưu lạc lắng xuống. Tiếng chuông là sự giải thoát, và Trương Kế nghe trong tâm hồn cái vui an b́nh của niềm an lạc mới...
Phải có vận hội muộn màng và ngắn ngủi, phải có cái bơ vơ và bất an v́ cảnh nước mất nhà tan sau loạn An Lộc Sơn, phải có cái đắng cay của một năm chạy loạn, th́ cái sầu muộn làm ông mất ngủ mới đủ sâu xa như một đại khổ nạn. Và cũng phải có tâm sự đại khổ nạn ấy, tiếng chuông chùa nửa đêm mới phát huy được tất cả khả năng tạo ra an lạc của nó. Nó không c̣n là âm thanh mà trở thành giọt nước cam lồ đức Quan Thế Âm tưới xuống thân phận nhà thơ. Trương Kế không đánh vần ra chừng ấy chi tiết. Nhưng tôi nghĩ dựa trên văn bản cũng như tiểu sử tác giả, cũng như mănh lực của bài thơ, chừng ấy khai triển xem ra cũng không quá đáng. Quần chúng đông đảo yêu thơ Trương Kế, phải chăng miên man liên hệ được cái bất an của ông, và do đó thấm được cái đẹp tuyệt vời của tiếng chuông giải thoát. Trong lịch sử dài dằng dặc của Trung quốc, cảnh loạn An Lộc Sơn không phải chỉ xảy ra một lần. Những thế hệ sau Trương Kế, biết bao văn nhân tài tử đă nếm cảnh ông. Gần đây trong Cách mạng Văn hóa, bao nhiêu người có tim có óc qua gian truân khổ cực đă cảm thông được cái đêm mất ngủ của Trương Kế, để tâm đắc với “Phong Kiều Dạ Bạc”. Riêng chúng ta dù đọc “Phong Kiều Dạ Bạc” qua những bản dịch, chúng ta không xa lạ với tâm sự Trương Kế. Đất nước Việt Nam không thiếu loạn lạc, không thiếu cảnh đổi đời trong lịch sử xa xôi, hay cận đại, hay hiện đại. Chúng ta đă có những đêm mất ngủ, không phải trong khoang của chiếc thuyền con neo bến Phong Kiều, mà trong hầm những vận-tải-hạm khổng lồ của Đệ thất hạm đội hay trên boong một thương thuyền được trưng dụng cho người tỵ nạn. Tiếp theo là những đêm mất ngủ trong một nhà tôn Quonset Hut của các trại Pendleton, Fort Chaffee, Indian Town Gap... hay một cḥi tranh trên những hải đảo có tên hoang dại như Kuku, Galăng, Tài Á Châu, vân vân... Những đêm mất ngủ đó c̣n theo chúng ta đến những căn hộ thuê bằng tiền trợ cấp hay đồng lương tối thiểu, hay sau cùng đến những ngôi biệt thự khang trang trên một khu đồi xanh bóng cây hay một cồn cát duyên hải chiều chiều nhuộm nắng hoàng hôn, khi thành công vật chất sau cùng đă tới với người tỵ nạn mà tâm sự tha hương mất mát vẫn chưa nguôi. Thật ra với những tâm hồn nhạy cảm, nỗi bất an thời nào cũng có, và chứng mất ngủ cũng không hiếm hoi. Nên chi ở một mức độ có thể ít hơn, dù không gặp đại khổ nạn, chúng ta cũng có thể hiểu được nỗi ḷng của Trương Kế trong đêm thuyền ông ghé trên bến Phong Kiều.

***
Nhiều người đă thất vọng v́ kích thước khiêm tốn của cảnh thật tại Phong Kiều. Hàn San Tự không là ǵ cả về mặt kiến trúc, thậm chí chỉ xấp xỉ bằng mấy ngôi chùa người Việt tỵ nạn dựng lên trong vùng quận Cam bang Cali bây giờ. Con kênh trước chùa nơi Trương Kế ghé thuyền cũng vậy. Một chi nhánh tầm thường trong mạng thủy lợi chằng chịt của miền Giang Nam, kênh rộng không quá 6 hay 7 thước, khó tiếp nhận cảnh sông nước mênh mông có sẵn trong đầu.
Tôi không bận tâm về những điều ấy. Có thể thời Trương Kế con kênh rộng lớn hơn. Có thể đêm “Phong Kiều Dạ Bạc” sương mù đầy trời làm cảnh nhỏ trông cũng bao la v́ ảo giác. Sau cùng và quan trọng hơn hết, đă đặt cốt lơi vẻ đẹp của bài thơ ở tiếng chuông và nỗi ḷng thi nhân trong một đêm mất ngủ, th́ Hàn San Tự có nhỏ bến Phong Kiều có hẹp cũng không c̣n quan trọng nữa.
Trái lại tôi nôn nóng muốn xem chiếc đại hồng chung của chùa. Tôi vẫn ao ước được nh́n thấy chuông, bây giờ lại càng nôn nóng hơn. Tôi thất vọng được biết chuông đă bị quân đội Nhật thời Trung-Nhật chiến tranh lấy mang đi mất từ lâu, hiện giờ không biết ở đâu. Tôi không nghĩ chuông đă bị nấu chảy ra để đúc đạn, nguời Nhật dù sao cũng không phí phạm như vậy. Giao thừa họ thường trực tiếp truyền thanh trên đài những hồi chuông đón năm mới của những chiếc đại hồng chung nổi danh trên đất nước. Nghe chuông chùa cuối năm là một nghi lễ cũng như một thú vui vừa đẹp vừa trang trọng của họ. Kawabata viết một truyện rất hay là “Đẹp và Buồn”, được tác giả khai bút bằng chuyện nghe chuông giao thừa mà ông kể lại về sau trong một chương đẹp tuyệt vời (9). Người Nhật lại c̣n mê thơ, nên cái chuông liên hệ đến “Phong Kiều Dạ Bạc” đă trở thành một bảo vật có một không hai. Lần đánh chiếm Tô Châu trong vụ cướp chuông, quân đội Nhật lại hiền như bụt mặc dầu họ vừa tàn sát xấp xỉ 300.000 người ở Nam Kinh. Phải chăng v́ trân trọng chiếc chuông mà họ tạm chuyển ác làm thiện trong cuộc hành quân này. Yêu chuông như vậy người Nhật chắc khó mà trả lại chuông, và đại hồng chung của Hàn San Tự chắc không có ngày châu về hợp phố!

Sau cùng một huyền thoại rất đẹp liên quan đến chùa Hàn San làm tôi lại mong không bao giờ chuông trở về Tô Châu. Cảm nghĩ nghe như vô lư này bắt nguồn từ sự tích của sư ông Hàn San và chú tiểu Thập Đắc, cùng t́nh bằng hữu hiếm có của họ. Sự tích có nhiều dị bản, thanh có tạp có. Tôi chọn dị bản đẹp v́ không những nó tả lại t́nh bằng hữu hiếm có của hai người đàn ông, mà c̣n liên hệ đến cái chuông bị mất.
Như đă nói, sư ông nguyên tu tiên trên núi Hàn San, một ngọn của dăy Thái Sơn. Ông có vợ, thích uống ruợu thích làm thơ. Xem ra tu Đạo ít khắt khe như tu Phật. Thập Đắc là một đứa trẻ vô thừa nhận được ông đem về nuôi làm tiểu đồng. Nhiều năm trôi qua, Thập Đắc trưởng thành và trở thành bạn vong niên tâm đắc của Hàn San. V́ một sự hiểu lầm, Hàn San tưởng Thập Đắc gian díu với vợ ḿnh. Ông rất đau khổ, không hẳn v́ vợ không chung thủy hay hư hỏng, mà v́ mất người bạn tâm đắc v́ một sự cố eo sèo của nhân t́nh. Hàn San bỏ đi, sau cùng lưu lạc đến xin quy y ở ngôi chùa bến Phong Kiều mà sau này mang tên ông. Thập Đắc xuống núi đi t́m bạn, sau cùng tới được chùa. Hàn San mừng rỡ, v́ hiểu lầm đă được đả thông và ông t́m lại được bạn. Tuy nhiên ông quyết tâm ở lại chùa tu Phật, và muốn Thập Đắc trở về núi xum họp với vợ cũ của ông. Ông đă nghi oan nàng nên không muốn nàng chịu thêm cảnh cô đơn hiu quạnh. Vả lại không ai xứng đáng với người đàn bà đặc biệt ông đă chọn làm vợ bằng nguời bạn tâm đắc của ông. Thập Đắc không chịu, ở lại chùa cùng tu Phật với Hàn San. C̣n đậm ảnh hưởng Lăo Trang, hai người không buộc ḿnh trong những tiểu tiết của lối tu thông thuờng. Thi ca cũng như lối sống hàng ngày của họ vẫn phóng khoáng và giữ nét tiên phong thoát tục. Họ được tạc tượng và khắc h́nh trên bia đá để thờ. Sư ông Hàn San bụng phệ, vú to, mặt tṛn, phè phỡn ôm vai bá cổ Thập Đắc. Chú tiểu tay cầm chai ruợu, h́nh tướng cũng bê tha không kém. Chân dung họ thật phù hợp với những lời đồn đại. Nó cũng phù hợp với một thiền vị cao siêu, khi cái thanh và cái tục không c̣n đối đăi nhau.
Nếu chính bàn tay Hàn San hay Thập Đắc đă thỉnh hồi chuông gieo duyên cho niềm an lạc của Trương Kế và gây cảm hứng cho bài thơ bất hủ, tôi cũng không ngạc nhiên. H́nh tướng thô tạp của đôi bạn thân không đối kháng với cái thanh tao của “Phong Kiều Dạ Bạc”. Sắc bất dị không, không bất dị sắc, như kinh Bát Nhă dạy. Như đă nói, ở tŕnh độ siêu thoát của các vị cao tăng, xấu hay đẹp, thanh cao hay thô tạp chỉ là hai mặt của cùng một thực thể.
Sống nhiều thế kỷ trước Trương Kế, Hàn San và Thập Đắc không trực tiếp đánh tiếng chuông tạo cảm hứng cho “Phong Kiều Dạ Bạc”. Nhưng đôi bạn vong niên liên hệ mật thiết đến chiếc đại hồng chung của Hàn San Tự. Tục truyền rằng thời họ tu tập tại chùa, một hôm có chiếc chuông lớn không biết từ đâu trôi ngửa về bến Phong Kiều. Chuông nặng nguời thuờng không ai lay nổi. Thập Đắc nhờ đă có phép tiên hồi c̣n là đạo sĩ đứng ra cáng đáng việc mang chuông vào chùa. Bất ngờ chuông lật xấp, úp lấy Thập Đắc rồi cỡi sóng trôi đi. Thập Đắc từ bên trong thỉnh chuông cầu cứu. Kỳ diệu thay, chiếc đại hồng chung của Hàn San trong chùa rung theo, cho đến khi cái chuông chụp Thập Đắc đă trôi khỏi tầm mắt. Sau cùng chuông trôi sang tới Nhật và được thỉnh vào một ngôi chùa bên ấy. Thập Đắc biệt tăm, không biết thành tiên hay thành bồ-tát. Tuy nhiên, hai chiếc chuông tuy xa cách một Biển Đông vẫn thỉnh thoảng đối đáp nhau. Quả là đồng thanh tuơng ứng.
Người Nhật cướp chuông Hàn San mang về nước phải chăng muốn cho cặp chuông được đoàn tụ. Ngày xưa lính Nhật đă thiếu từ bi khi cướp chuông, th́ bây giờ nếu mang chuông trả họ c̣n thiếu từ bi hơn, v́ chia rẽ cặp chuông mà t́nh bằng hữu Hàn San-Thập Đắc đă thăng hoa để nhập vào. Đó là lư do khiến tôi không muốn chuông chùa Hàn San trở về cố chủ.
Gần đây nước Nhật đền cho Tô Châu một cái chuông khác, không biết kích thước h́nh dáng giống được chuông cũ bao nhiêu. Tôi không muốn xem cái chuông giả, nhưng vẫn thắc mắc là khi thỉnh lên nó sẽ kêu như thế nào. Tôi hy vọng nó sẽ không cộng hưởng với hai cái chuông đă có sẵn bên Nhật. Cả ba cái chuông đối đáp nhau cùng một lúc chắc ồn lắm. Mối t́nh tay ba nào, dù là mối t́nh chuông cũng phức tạp và lắm phiền năo.

***
Vào khoảng trưa, Hàn San Tự tấp nập với nhiều đoàn du khách. Tôi không nghe thấy tiếng Anh, nhưng rơ ràng là có tiếng Pháp và tiếng Nhật lao xao. Định nhờ anh hướng dẫn địa phương t́m trên vách chùa xem có bài “Sơ tam sơ tứ nguyệt mung lung” người ta đồn rằng do một sư ông cùng chú tiểu làm chung, th́ t́nh cờ chiếc đại hồng chung mới bỗng đổ hồi. Tôi thất vọng không hẳn v́ phẩm chất của âm thanh, mà v́ tiếng chuông khi nhanh khi chậm, khi mạnh khi yếu, không ra khuôn phép ǵ cả. Thấy tôi chau mày suy nghĩ, anh hướng dẫn địa phương cắt nghĩa là họ đang cho du khách lần lượt thỉnh chuông. Tôi chợt hiểu lư do tại sao đoàn du khách Nhật đang rồng rắn xếp hàng trước lầu chuông trong sân chùa. Tôi cũng được cắt nghĩa là nhà chùa hoàn toàn cộng tác với sở du lịch để tạo thỏa măn tối đa cho du khách.
Tôi thoáng nghĩ đến tiếng chuông thật một đêm khuya vào một thế kỷ xa xăm đă tạo nguồn thi hứng cho Trương Kế để ông viết “Phong Kiều Dạ Bạc”. C̣n tiếng chuông giả huyên náo và vô kỷ luật giữa trưa nắng chang chang bây giờ gây ra cảm hứng ǵ trong đám du khách đang xếp hàng đợi đến lượt ḿnh thỉnh chuông? Họ có biết là họ đang gióng cái chuông giả không. Tôi thầm cảm ơn Trần Chính và Từ tiên sinh đă nghiêm túc làm phận sự hướng dẫn viên du lịch khi chia sẻ với tôi kiến thức của hai anh về ngôi chùa. Không có họ, chắc tôi đă thỉnh chuông với những tư duy thâm trầm hay lăng mạn v́ đă tưởng chuông này, tiếng đồng này là nguồn thi hứng của Truơng Kế ngày xưa. Nhưng dù sao, tôi sẽ không bao giờ được nghe tiếng chuông Trương Kế đă nghe khi ông viết “Phong Kiều Dạ Bạc”. Đă đến giờ đoàn đi ăn trưa. Tôi vội bước lên xe ca để trốn cái nóng bắt đầu hừng hực trên băi đậu, cũng như để tránh những âm thanh khó nghe của chiếc chuông giả. Biết ḿnh không phải là một phật tử thuần thành, tôi sẽ không thể lấy lẽ vô thường để tự an ủi.
Nhưng một tia sáng lóe ra trong đầu tôi. Là tiếng chuông cũ không mất. Nó vẫn nằm nguyên vẹn trong bài thơ tứ tuyệt của Trương Kế, để bao giờ con người c̣n yêu thơ th́ tiếng chuông ấy vẫn c̣n. Rồi tôi nghĩ rộng hơn, để thấy rằng thân phận con người, nhất là những con người nhạy cảm, nỗi niềm bất an c̣n tồn tại dài dài, và tiếng chuông chùa dù ở đâu vẫn c̣n nguyên vẹn khả năng cứu rỗi cho những tâm hồn thao thức v́ đă sống quá nhiều đang muốn t́m về lại cơi an lạc ban đầu.

M.K.N.
(Đầu Hè 2004)

Phụ lục:
(1) Trần Trọng San, Thơ Đường, cuốn 1, trang 115, NXB Bắc Đẩu 1972.
(2) Hoàng Xuân Chỉnh, Từ Điển Nhân Danh Địa Danh, NXB Hương Tuấn 2000 – Zhang Ji, trang 562.
(3) Một số bản dịch “Phong Kiều Dạ Bạc”:

Bản dịch của Tản Đà (1):
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh (4):
Quạ kêu trăng lặn trời sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sa
n.

Bản dịch của Ngô Tất Tố (5):
Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui
Đèn chài, cây băi, đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bến đ̣ canh khuya.

Bản dịch của Trần Trọng San (1):
Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài
Ngoài Lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

Bản dịch của Nguyễn Hà (6):
Tiếng quạ kêu sương, nguyệt cuối trời
Bờ phong sầu hắt lửa thôn chài
Hàn San chuông vẳng Cô Tô lại
Khuya khoắt lay thuyền động giấc ai.

Bản dịch của Hữu Nguyên (5):
Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương
Phong băi, đèn câu đắm mộng trường
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu
Chuông Hàn San tự thoảng đưa sang.

Bản dịch Anh Ngữ (7):
While I watch the moon go down, a crow caws through the frost
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.

Bản dịch Pháp Ngữ:
Tandis que j'observe la lune descendre, des caws d'une corneille par le gel
Sous les ombres des érable-arbres un pêcheur se deplace avec sa torche
Et j'entends, de au delà de Suzhou, du temple sur la montagne froide
Sonnant pour moi, ici dans mon bateau, la cloche de minuit.

(4) Nguyễn Quảng Tuân, “Đến Hàn San để t́m hiểu bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế”, Tạp Chí Văn Học 191 (tháng 3, 2002), trang 36.
(5) Thư Viện Hoa Sen, <www.thuvienhoasen.org/tho-phongkieudabac.htm>
(6) Trần Long Hồ, “Đọc lại Phong Kiều Dạ Bạc”, Tạp Chí Văn Học 195 (tháng 7, 2002), trang 22.
(7) University of Virginia Library, <http://etext.lib.virginia.edu/chinese/frame.htm>
(8) Trần Chính, Voyages Saigon, <www.voyagesaigon.com>
(9) Yasunari Kawabata, “Đẹp và Buồn”, tiểu thuyết (từ bản dịch tiếng Anh “Beauty and Sadness”).

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved