Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

SALADE EsPRESSO hân hạnh được giới thiệu cùng độc giả bài khảo luận ngắn thứ hai của G.S. Trần Văn Chi liên quan đến Âm nhạc Tài tử miền Nam (Việt Nam) nói chung và loại h́nh ca-nhạc Cải lương nói riêng. Đây là bài viết có giá trị lớn về mặt tư liệu.
SALADE EsPRESSO.


VỀ BẠC LIÊU NGHE LẠI BÀI “DẠ CỔ HOÀI LANG”

Từ Sàig̣n lái xe trên Quốc Lộ 4 (nay là Quốc Lộ 1A) đến Bạc Liêu phải vượt qua 280 cây số. Bạc Liêu là một địa phương áp cuối của miệt dưới xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày xưa, gồm có Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên; Thuở đó Bạc Liêu thuộc trấn Hà Tiên.
Bạc Liêu là vùng đất mới khai phá trên dưới 200 năm, c̣n ghi nhiều dấu ấn của chúa Nguyễn Ánh vào thời kỳ “ṭng vong, tẩu quốc”... nên măi đến nay vẫn c̣n giữ lại nhiều địa danh như Ao Ngự, Kinh Chắc-Băng... gợi nhớ đến vị Hoàng đế khai quốc nhà Nguyễn (Ao Ngự là ao do chúa Nguyễn Ánh ra lịnh đào để lấy nước cho quân lính uống, c̣n Kinh Chắc-Băng là con kênh chúa Nguyễn Ánh chạy vượt qua khi đang lâm bệnh, sợ chết bèn than “Trẫm chắc băng hà...”).
“Bạc Liêu là xứ quê mùa
Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”

Thời đó, so với miền trên và Gia Định th́ Bạc Liêu quả là xứ quê mùa và là xứ có rất nhiều cá chốt, nhiều đến độ mỗi khi rửa tôm cá dưới mé sông th́ cá chốt bu lại đặc ngẹt; C̣n Triều Châu là người Tiều, theo chân Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích bỏ xứ Tàu chạy xuống định cư ở đây, cùng với người Miên từ Sóc Trăng, Trà Vinh đến đây lập nên Bạc Liêu.
Cái “quê mùa” của Bạc Liêu là cái quê mùa dễ thương, mộc mạc, chân chất mà trung hậu, có trước có sau... thể hiện qua cô gái trong vườn nhăn Vĩnh Châu, chàng trai trên ruộng muối Giá Rai, Vĩnh Lợi...
Ai đă từng một lần nghe Út Trà Ôn ca bài “T́nh Anh Bán Chiếu” mà không liên tưởng đến Sông Ngă Bảy và con Kinh Bảy Ngă trên thủy lộ Phụng Hiệp nối liền An Xuyên - Cà Mau, Ba Xuyên - Sóc Trăng và Phong Dinh - Cần Thơ dài 140 cây số, đào từ năm 1920, trong đó có 34 cây số chạy qua địa phận Bạc Liêu.
Địa danh Bạc Liêu luôn gây nhiều ấn tượng cho người dân Lục Tỉnh, ngay cả khi họ chưa một lần đặt chân đến đó, với h́nh tượng của “Công tử Bạc Liêu”, một cái tên gọi vốn đă trở thành tiêu biểu cho mẫu người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, mẫu người mà cụ Nguyễn Đ́nh Chiễu đă dùng để xây dựng thành tiểu thuyết Lục Vân Tiên.
Nói đến Bạc Liêu cũng không thể không nhắc đến nghệ sĩ Sáu Lầu (ông Cao Văn Lầu), người đă cống hiến cho “lớp người đi khai phá” một điệu hát lấy cảm hứng từ câu hát huê t́nh và điệu nhạc Hành Vân để họ làm hành trang trên con đường Nam Tiến.
Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” tuy riêng mà chung, từ cái riêng mà trở thành cái chung, và đă mở đầu cho một phong cách ăn chơi hào phóng của Nam Kỳ - Lục Tỉnh vào đầu thế kỷ thứ 20: loại h́nh “đờn ca tài tử”.
Lời ca trong 20 câu Vọng-cổ khởi đầu từ năm 1917(?) đă đưa Bạc Liêu từ “xứ quê mùa” trở thành cái nôi của Âm nhạc Tài tử của cả miền đất Nam Kỳ - Lục Tỉnh.

01. Từ là – từ phu tướng
02. Báu kiếm sắc phong lên đàng
03. Vào ra luống trông tin chàng
04. Và năm canh – mơ màng
05. Em luống trông tin chàng
06. Ôi gan vàng thêm đau!
07. Đường dầu xa ong bướm
08. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
09. C̣n đêm luống trông tin bạn
10. Ngày mỏi ṃn như đá vọng phu
11. Vọng phu luống trông tin chàng
12. Ḷng xin chớ phụ phàng
13. Chàng là chàng có hay
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
15. Biết bao thuở đó đây sum vầy?
16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai
17. Là nguyện – cho chàng
18. Hai chữ b́nh an – b́nh an
19. Trở lại – gia đàng
20. Cho én nhạn hiệp đôi

Trước đây, vào khoảng đầu thập niên 1970, nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà, đồng thời là một soạn giả cải lương, đă mời cụ Cao Văn Lầu, thuở đó đă ngoài 70 tuổi, lên sân khấu rạp Quốc Thanh để chủ tọa buổi tuyển lựa ca sĩ cổ nhạc; Và cụ đă không quên kêu gọi mọi người “uống nước” nên “nhớ nguồn”. Nay th́ nghệ sĩ Sáu Lầu không c̣n nữa. Tại quê hương ông, để “nhớ nguồn”, người ta đă xây dựng nhiều công tŕnh đề tên ông, Cao Văn Lầu. Vừa qua, ngày 18 tháng 10 năm 2002, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết cũng đă ra mắt tác phẩm CD “Kinh Pháp Cú” chuyển thể sang Cải lương tại Little Saigon, nhằm gây quỹ xây dựng Chùa Tổ Cải Lương tại Bạc Liêu – cũng là quê hương của chị, và đă được rất nhiều người ủng hộ.
Bài Vọng-cổ thuở ấy nhịp 4 và ít lời nên toàn bài có tới 20 câu. Nay vọng cổ thường chỉ ca 4 tới 6 câu. “Dạ Cổ Hoài Lang” xuất hiện đă làm nền tảng cho sự ra đời của nghệ thuật Cải lương; Ca-kịch Cải lương, khởi xướng tại Mỹ Tho, tính đến năm 1922 đă có tất cả 8 Ban (đoàn hát):
- Mỹ Tho: Đồng Bào Ban, Nam Đồng Ban và Tái Đồng Ban.
- Long Xuyên: Sĩ Đồng Ban.
- Vĩnh Long: Kỳ Lân Ban.
- Sóc Trăng: Tân Phước Ban; hát diễn từ Sàig̣n xuống đến Miền Tây.
- Chợ Lớn: Văn Hí Ban.
Chính vào thời kỳ này, nghệ sĩ Năm Nghĩa đă sánh vai cùng Bẩy Cao, Ba Khuê, những đứa con của xứ muối Bạc Liêu, để giúp cho bộ môn Cải lương cất cánh.
Năm Nghĩa tên là Lư Ḥa Nghĩa, con ông Lư Hữu Thành, cháu nội ông Lư Văn Ngọc, người gốc ở Bạc Liêu. Ông Lư Văn Ngọc là người giàu có và điệu nghệ, đồng thời là một nghệ nhân chơi cây kiểng có tiếng thời đó ở Bạc Liêu; Ông c̣n lưu lại một gốc kiểng cổ thụ 120 năm tuổi (tính đến thập niên 1970), nay không biết cội kiểng ấy c̣n sống không, và đă về tay nghệ nhân nào? Năm Nghĩa có công xây dựng đoàn Thanh Minh, cũng như Bảy Cao đă lập đoàn Hoa Sen. C̣n nhớ lúc ấy Năm Nghĩa nổi tiếng khắp nơi với bài vọng cổ “Văng vẳng tiếng chuông chùa”, càng làm cho Bạc Liêu nổi tiếng, từ đó bài Vọng-cổ 32 nhịp được gọi là “Vọng-cổ Bạc Liêu”.
Lúc Cải lương bắt đầu phát triển mạnh cũng là lúc nghệ sĩ Năm Nghĩa qua đời v́ bệnh phổi. Bà Nguyễn Thị Thơ, người bạn đời của ông, tiếp tục lèo lái đoàn Thanh Minh rồi cải tên thành đoàn Thanh Minh - Thanh Nga, một “đại ban” (đoàn hát lớn) lúc bấy giờ.
Nữ nghệ sĩ Thanh Nga là con riêng của bà Bầu Thơ, nhưng được nghệ sĩ Năm Nghĩa thương yêu d́u dắt để thành đào chánh kiêm đào thương của “bảng hiệu nhà”, rồi sau nầy cô đoạt Giải Thanh Thâm đầu tiên (1958). Đến năm 1964 đoàn Thanh Minh được trao tặng giải thưởng “Ban Ca-kịch Xuất sắc nhất”. Nam nghệ sĩ Bảo Quốc là con ruột của Năm Nghĩa, măi đến năm 1967 mới chính thức bước lên sân khấu và hiện vẫn c̣n sống chết với nghệ thuật Cải lương... Thanh Nga đă đột ngột ra đi sau khi cô diễn tuồng “Tiếng Trống Mê-Linh” (sau năm 1975), gây thương xót nơi hàng triệu khán giả ái mộ. Hiện mộ phần của cô nằm trong Nghĩa Trang Nghệ Sĩ thuộc khu Chùa Cải Lương do ông Bầu Xuân quản lư.
Xin kể tên các nam nữ nghệ sĩ đă đoạt Giải Thanh Tâm từ năm 1958 đến năm 1964:
- 1958: Thanh Nga
- 1959: Lan Chi, Hùng Minh
- 1960: Bích Sơn, Ngọc Giàu
- 1961: Thanh Thanh Hoa
- 1962: Ngọc Hương, Ánh Hồng
- 1963: Bạch Tuyết, Kim Loan, Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Diệp Lang, Thanh Tú
- 1964: Lệ Thủy, Thanh Sang
Gia đ́nh Năm Nghĩa sống chết với nghiệp Cải lương, qua đó đă làm rạng danh Bạc Liêu xứ muối.
Về thăm Bạc Liêu, thăm Nhà Lưu Niệm cố nhạc sĩ Sáu Lầu, thăm vườn nhăn, ruộng muối, thăm lại công tử Bạc Liêu thuở nào...
Bạc Liêu thuộc trấn Hà Tiên vào đời nhà Nguyễn, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta vào năm 1882 th́ đổi thành tỉnh Bạc Liêu, một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Francaise); Quan đầu tỉnh người Pháp đầu tiên tên là Lamothe De Carrier. Đến ngày 1 tháng 4 năm 1957 Bạc Liêu bị sát nhập vào tỉnh Ba Xuyên, từ bấy đến nay lại đă thay đổi nhiều lần...
Về thăm Bạc Liêu người ta thường không quên thưởng thức món ăn độc đáo là Bún-mắm-Nước-lèo, một món ăn có lẽ do người Miên đặt ra. Bún-mắm-Nước-lèo Bạc Liêu theo thời gian đă từ từ “hiện đại hóa” và trở thành món ăn khá phổ biến của mọi người Việt, từ trong nước ra đến tận hải ngoại. Cũng giống như món Phở bắc Hà Nội, khởi thủy là món ăn của người Tàu nấu bằng thịt trâu, đến khi được dân Hà Nội chế biến thành phở ḅ th́ nó bắt đầu trở thành món ăn được ưa chuộng của người Việt Nam; Phở bắc sau đó di cư vào Nam thành phở Sàig̣n, cũng là món phở mà chúng ta ăn hiện nay ở khu Little Sàig̣n của cộng đồng người Việt ở Nam California, hoàn toàn khác với món phở Hà Nội mà Nguyễn Tuân nói đến vào thời xa xưa.
Về Bạc Liêu chúng ta c̣n phải đến thăm lại một kỷ vật của nhà “bác vật” Lưu Văn Lang: cái đồng hồ nắng (horloge solaire) nằm trước dinh Quan đầu tỉnh ngày xưa. Cũng đừng quên đến thăm các ngôi chùa Miên, chùa Phật-giáo Khất Sĩ và chùa Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Học Nam Việt, cái nôi của thời kỳ Chấn hưng Phật-giáo Việt Nam.
Khi người dân Pháp nổi lên làm cuộc Cách Mạng năm 1789 th́ ở nước ta các ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Tùng Châu vâng lệnh chúa Nguyễn Ánh đi về Bạc Liêu và nhiều nơi khác lập đồn điền, huấn luyện quân binh. Người Bạc Liêu vẫn không quên ngày vị Kinh Lược của triều đ́nh là Nguyễn Tri Phương vâng lệnh vua Tự Đức về đây lập đồn lũy để chuẩn bị chống giặc Pháp vào năm 1853. Đến ngày 20 tháng 9 năm 1867, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm miền Nam, tên De Lagrandière đă ra lệnh giải tán toàn bộ các cơ sở đồn điền ở Bạc Liêu để đề pḥng các cuộc nổi dậy.
“Bạc liêu là xứ quê mùa
Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”

Hai câu ca dao ấy khiến chúng ta nhớ lại Bạc Liêu ngày xưa, vào cái thời tổ tiên chúng ta đi khai mở những miền đất mới ở phía Nam... Nay Bạc Liêu đă thay da đổi thịt. Nhưng về Bạc Liêu không thể không nhớ bài “Dạ Cổ Hoài Lang” và bài Vọng-cổ 32 nhịp của Năm Nghĩa. Xa quê, nhớ nước... xin gởi chút t́nh hoài hương về Bạc Liêu.

March 28, 2003
TRẦN VĂN CHI.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved