Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

G.S. Trần Văn Chi, một khách hàng thân quen của Voyages Saigon, là một nhà văn, một học giả, một người rất gắn bó với văn-hóa miền Nam Việt Nam, và đồng thời rất tiêu biểu cho mẫu người trí thức miền Nam (sâu sắc đi đôi với giản dị và đôn hậu). Ông rất ủng hộ Voyages Saigon trong những cố gắng của chúng tôi nhằm đưa những sinh hoạt văn hóa vào các chương tŕnh Tour Việt Nam; Trong đó có việc giới thiệu các thể loại và bộ môn khác nhau trong âm nhạc truyền thống của ba miền như Ca trù, Chèo Quan họ ở miền Bắc, Ca Huế ở miền Trung và Cải lương ở miền Nam.
SALADE EsPRESSO rất hân hạnh được giới thiệu cùng độc giả hai bài khảo luận ngắn của G.S. Trần Văn Chi liên quan đến loại h́nh ca-nhạc (và ca-kịch) Cải lương. Đây là hai bài viết có giá trị rất lớn về mặt tư liệu.
Dưới đây là bài thứ nhất.
SALADE EsPRESSO.


NỘI DUNG CỦA CẢI LƯƠNG: ĐẠO LƯ CON NGƯỜI VIỆT NAM

Xưa ở xứ Lục Tỉnh chỉ có hát bội. Khi các nghệ sĩ đưa “ca ra bộ” lên sân khấu, rồi tiếp đến khi các gánh hát được thành lập với tuồng tích, nội dung, đào kép, dàn nhạc... tŕnh diễn trước công chúng th́ được gọi là “Cải lương”. Cải lương ư nói “cải sửa cho tốt hơn, hay hơn” so với hát bội. Đoàn Cải lương c̣n được gọi là “ca-kịch Cải lương”, do nội dung bao gồm vừa ca vừa kịch.
Cải lương xuất hiện chánh thức như sân khấu Cải lương (không c̣n ca ra bộ nữa). Ở Mỹ Tho năm 1917 công đầu là do ông Châu Văn Tú với lối quảng cáo độc đáo “tableau vivant”, tức là màn “chưng đào kép”, ngày nay gọi là tŕnh diện đào kép trước khán giả trước khi khai tuồng. Ông Năm Tú “chưng” tất cả đào kép đóng tuồng đêm hôm đó cho công chúng “coi măn nhăn” rồi mới mở màn.
Rồi Cải lương phát triển qua các thời kỳ, cùng những thăng trầm theo vận mệnh đất nước:
- Thời kỳ đầu tiên từ năm 1917 đến năm 1922: là thời h́nh thành - phôi thai và tiếp theo là định h́nh của ca-kịch Cải lương tại Mỹ Tho. Tuồng tích chủ yếu khai thác các truyện xưa của Việt Nam mà ai nghe cũng biết, như các tuồng “Vân Tiên Nguyệt Nga”, “Kim Vân Kiều”, “Thoại Khanh Châu Tuấn”, “Trọng Thủy Mỵ Châu”, và một số tuồng Tàu như “Phụng Nghi Đ́nh”, “Tống Tửu Đơn Hùng Tín”, “Hoàng Phi Hổ đầu Châu” v.v... tất cả đều có nội dung ca ngợi những tấm gương trung hiếu, ḷng yêu nước, nghĩa khí anh hùng.
Những nghệ sĩ như Năm Phỉ, Phùng Há, Năm Châu, Tư Chơi đă làm cho khán giả say mê, khích động và giáo dục tinh thần của khán giả cũng như của dân ta hồi ấy nói chung.
- Thời kỳ từ năm 1923 đến năm 1945: là thời kỳ hưng thịnh của cải lương, do t́nh h́nh chính trị - xă hội ở Việt Nam vào những năm ấy yên ổn. Cải lương từ Nam ra Bắc tạo nên một phong trào trong giới yêu chuộng và cả trong quần chúng. Tuồng xă hội bắt đầu xuất hiện mà bấy giờ gọi là “tuồng Tây” do nội dung lấy từ thực tế của cuộc sống, c̣n y trang và phong cách th́ phỏng theo kịch Âu Châu. Nổi tiếng có các tuồng “Tiếng nói trái tim”, “Giá trị danh dự”, “Trọn tiết với chồng”, “Tơ vương đến thác”, “Duyên chị t́nh em” v.v..., và đặc biệt nhứt là tuồng “Đời cô Lựu”, “Tô Ánh Nguyệt” (của Trần Hữu Trang) và “Lan và Điệp”.
Các nữ nghệ sĩ xuất hiện thêm như Kim Thoa, Bảy Nam, Bích Thuận, Kim Cúc, Năm Sa Đéc... C̣n nam th́ có thêm Duy Lân, Ba Vân, Năm Nở, Tư Út...
Về nội dung, các tuồng xă hội thời bấy giờ phản ảnh mặt trái của xă hội miền Nam. Những bất công xă hội, thân phận của con người bị trị, nô lệ trước các thế lực của Thực Dân và bọn Tân Trào Việt Gian. Các vở “Đời cô Lựu” hay “Lan và Điệp” cho tới nay vẫn c̣n được ưa chuộng, xem qua khiến chúng ta nhớ lại thời kỳ dân tộc c̣n bị cường quyền áp bức!!!
- Thời kỳ từ năm 1946 đến năm 1965: là thời kỳ sân khấu Cải lương phát triển vào chiều sâu trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh khốc liệt trên quê hương Việt Nam. Các đoàn Cải lương chỉ quanh quẩn ở Sàig̣n, vùng ven đô và ở các thành phố lớn. Do đó các đoàn loại C không tồn tại được, đào kép phải dồn về các đoàn loại A và B, tức loại “đại ban” và “trung ban”. Thời kỳ này có Trường Sân khấu Kịch-nghệ Cải lương. Các báo ở Sàig̣n tranh nhau khai thác “trang kịch trường” và kỹ nghệ dĩa nhựa phát triển mạnh, phục vụ tận các hang cùng ngơ hẻm và thôn quê làng mạc.
Giải Thanh Tâm ra đời vào lúc ấy đă giúp cho các nam nữ nghệ sĩ Cải lương trở thành các ngôi sao. Giải Thanh Tâm ra đời vào năm 1958, đến năm 1967 th́ kết thúc, do biến cố năm Mậu Thân 1968. Hầu hết những nghệ sĩ nổi danh của thời kỳ này đều từng đoạt Giải Thanh Tâm.
Tuồng xă hội tiếp tục được ưa chuông như “Lỡ bước sang ngang”, “Nữa đời hương phấn”, “Nỗi buồn con gái”, “Tuyệt t́nh ca” v.v...; Đặc biệt các vở tuồng loại “kiếm hiệp Kim Dung” cũng được ưa chuộng một thời, thay thế cho một số tuồng xă hội bị kiểm duyệt không diễn được. Nội dung của những tuồng xă hội nổi tiếng vào thời kỳ này vẫn ca ngợi sự chung thủy và đạo lư vợ chồng, nhưng các soan giả đặt chúng vào trong bối cảnh đương thời của đất nước: cuộc chiến tranh chống Pháp...
- Thời kỳ từ năm 1966 đến năm 1975: là thời kỳ suy thoái của sân khấu Cải lương do chiến cuộc leo thang sau biến cố năm Mậu Thân, đồng thời cũng do hiện tượng “kinh doanh Cải lương”. Các nhà tư bản bỏ tiền mua đào kép đứng tên. Một số báo chí khai thác khía cạnh thương mại của sân khấu Cải lương, một số kư giả kịch trường chạy theo đồng tiền bất chánh làm cho nghệ thuật Cải lương bị xuống dốc. Một phần cũng do phim ảnh, truyền h́nh phát triển mạnh nên không c̣n có nhiều người đến với sân khấu Cải lương. Chỉ có các đại ban (loại A) là c̣n sống được như Thanh Minh - Thanh Nga, Dạ Lư Hương, Công Ty Kim Chung... hoặc trung ban (loại B) như Hương Mùa Thu.
Nói đến Cải lương chúng ta không thể quên nhắc đến các nghệ sĩ tŕnh diễn trên làn sóng phát thanh (không phải sân khấu), nhưng cũng đă góp phần vào sự phát triển của Cải lương và tô bồi cho nội dung của bộ môn nghệ thuật này. Đó là các nam nghệ sĩ Tám Thưa, Thành Công, Năm Phồi, Năm Bửu, Bảy Quới, Chín Sớm, Sáu Thoàng..., và các nữ nghệ sĩ như các cô Ba Bến Tre, Năm Trà Vinh, Năm Cần Thơ, Lệ Liễu, Bạch Huệ, Ngọc Ánh, Thanh Hoa…... và cùng với những nghệ sĩ “danh cầm” như Bảy Bá, Năm Cơ, Văn Vĩ, Ba Khuê, Chín Trích, Ngọc Sáu, Ba Dư, Hai Thơm, Sáu Lời, Út Trong...
Qua tất cả các thời kỳ Cải lương, những tuồng tích mà các soạn giả xây dựng đều mang nội dung đề cao t́nh nghĩa vợ chồng, ḷng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, sự quí trọng t́nh bầu bạn anh em, ca ngợi sự gắn bó với bà con xóm làng, và đặc biệt nêu cao t́nh yêu nước, ḷng hy sinh cho dân tộc. Nội dung đạo lư của những vở tuồng Cải lương ấy đă được các soạn giả gửi gắm cho các nghệ sĩ, đặc biệt là các nữ nghệ sĩ, thể hiện để kích thích những t́nh cảm tốt đẹp và tích cực trong ḷng người nghe và người xem. V́ vậy mà các “đào thương” của sân khấu Cải lương luôn luôn được quần chúng ái mộ, bởi v́ họ là hiện thân của thân phận người phụ nữ Việt Nam nói riêng, và thân phận con người Việt Nam nói chung.
Khi nghe Út Bạch Lan ca, chúng ta thấy ḷng ḿnh ưu tư lo lắng cho thân phận cô con gái về nhà chồng; Khi nghe Diệu Hiền, Thanh Nga ca, chúng ta cảm thấy ḷng ḿnh thanh thoát như đang hướng về cơi Phật, giúp chúng ta giải hóa những dục vọng của cuộc đời. Nghe Lệ Thủy, đặc biệt qua các lớp “Tân-Cổ Giao Duyên”, chúng ta cảm thấy yêu đời, hăm hở làm nhiệm vụ tiền tuyến... Nghe Văn Hường, Hề Minh, Hề Sa... chúng ta bỗng thấy ḿnh như đang dơng dạc mỉa mai thế sự, đả kích thói hư tật xấu, khiến mọi người ai cũng muốn làm lành, tránh dữ. Cải lương là sản phẩm của dân tộc, tải chứa những nỗi niềm của con người Việt Nam qua mọi thời kỳ, không phân biệt tuổi tác và giai cấp, nên chúng ta nói Cải lương mang đậm dân tộc tính là như thế.
Tất cả những nội dung ấy, cái mà Cải lương chuyên chở khởi “từ là – từ phu tướng” cho đến nay cốt lơi vẫn là Đạo lư của con người Việt Nam. Cho nên nghe Cải lương chúng ta cảm thấy như ai xoáy vào tim, xoắn vào ruột, vào gan... Cải lương hấp dẫn tâm hồn người Việt chúng ta một cách mănh liệt, cho dù chúng ta là người miền Trung, Nam hay Bắc.
Bởi lẽ Cải lương chính là Đạo lư nơi con người Việt Nam.

April 04, 2003
TRẦN VĂN CHI.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved