Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Độc giả của SALADE EsPRESSO chắc không c̣n lạ ǵ Sầu Đông (Nguyễn Thọ Chấn), với những bài viết rất súc tích của ông. Xin giới thiệu với bạn đọc một bài viết mới của Sầu Đông, bài khảo luận có tên là “Bản chất đàn ông”. Bài này chia làm 2 phần, và dưới đây là Phần Một. Tựa đề và các tiêu đề trong bài viết đều của tác giả.
SALADE EsPRESSO.


BẢN CHẤT ĐÀN ÔNG

“Nếu không có đàn bà, tiền bạc trên thế gian này chẳng có nghĩa lư ǵ”
(Aristotle Onassis)
“Quyền lực là loại thuốc kích dục rất mạnh”
(Henry Kissinger)

Trong đế quốc cổ xưa của người Incas, sex là một loại hoạt động bị kiểm soát chặt chẽ. Ông vua mặt trời Atahualpa giữ một ngàn rưởi cung nhân trong những căn nhà gọi là “nhà của các trinh nữ”. Họ được chọn theo nhan sắc, và nhằm việc bảo đảm nguyên vẹn trinh tiết của họ, rất hiếm người được tuyển khi đă trên tám tuổi. Nhưng phần lớn số này chẳng c̣n trinh bao lâu sau đó v́ họ đă là cung nhân của hoàng đế. Dưới hoàng đế có cả một nấc thang xă hội có đủ khả năng thành lập cấm cung mà luật lệ qui định. Các lănh chúa có đến hơn bảy trăm cung nhân trong nội cung. Những hào mục khoảng năm chục, và chư hầu khoảng ba chục. Và cứ thế xuống lần cho tới những người ít vai vế quan trọng.
Số nữ hiếm hoi c̣n lại dành cho những anh chàng da đỏ mà định chế giữ kẹt anh ta trong thế gần như độc thân, khiến có lúc anh ta phải làm liều phá luật, mà kết quả là h́nh phạt hết sức nghiêm khắc. Kẻ nào xâm phạm đến phụ nữ của Atahualpa th́ anh ta, vợ, con, thân thuộc, đầy tớ, dân trong làng, cùng toàn thể các pháp sư trong vùng sẽ bị tru diệt.
Hậu quả là Atahualpa và các hào mục của ông ta, theo cách ta hiểu với nhau, là cha của phần lớn những người thuộc thế hệ kế tiếp. Họ đă loại một cách có hệ thống những kẻ kém may mắn ra khỏi kho tàng gien (gene) của dân Incas. Dân Incas phần lớn là con của những kẻ quyền thế.
Trong vương quốc Dahomey ở Tây Phi, tất cả các phụ nữ đều thuộc quyền nhà vua. Hàng ngàn người bị giữ tại những cung cấm hoàng gia để ngài sử dụng, và những kẻ bị ngài bỏ quên là những kẻ mà thần dân của ngài chuộng lắm. Hậu quả là các vua Dahomey rất đông con, trong khi dân thường thường là độc thân và nghèo xơ xác. Theo lời kể của một du khách vào thế kỷ thứ 19, tại thành phố Abomey “khó ḷng kiếm ra một người dân Dahomey nào chẳng xuất thân trong hoàng tộc”.
Mối tương quan giữa sex và quyền lực có cả một lịch sử lâu dài.

1. LOÀI NGƯỜI LÀ MỘT LOÀI THÚ
Giống người là một chủng loại chịu sự tiến hóa như bất kỳ sinh vật nào. Và cuộc cách mạng xảy ra trong ṿng hai chục năm nay qua cách nh́n của những nhà khoa học về sự tiến hóa đă có những tác động nhất định đối với loài người. Đến lúc này ta có thể nói gọn là tiến hóa có nhiều phần diễn ra trong quá tŕnh truyền sinh của những kẻ thích nghi nhất, hơn là do sự sống c̣n của những kẻ ấy. Mọi sinh vật trên trái đất này là sản phẩm của một loạt những cuộc tranh chấp đầy sử tính giữa những kư sinh và chủ thể, giữa các gien này với gien khác, giữa các thành viên của cùng một chủng loại, giữa những kẻ cùng một phái tính trong cạnh tranh với những kẻ cùng phái tính khác. Những trận chiến như vậy bao gồm cả chiến tranh tâm lư, nhằm lôi kéo và khai thác những thành viên khác của chủng loại; ta chưa từng thấy có kẻ thắng v́ sự thành công trong một thế hệ chỉ có thể cho thấy một bảo đảm kẻ thù của thế hệ kế tiếp sẽ t́m cách thích nghi với cuộc chiến cam go hơn. Đời sống chẳng qua chỉ là những cuộc chạy đua “dă tràng xe cát”: kẻ nào cũng cắm đầu chạy cho tới mức đến, mà mức đến lại chỉ là mức khởi hành của một cuộc đua mới.
Nơi đây ta bắt đầu tuân theo cái logic của những luận cứ này tận trung tâm của động thái con người. Những ai không đồng ư với luận điểm này thường đưa ra hai lập luận: (1) nơi giống người, hành vi là tập tính, và chẳng có điều ǵ là tự nhiên tính cả; (2) hoặc giả tự nhiên tính là hành vi cứng ngắc, không uyển chuyển, mà giống người là giống hết sức uyển chuyển. Luận cứ trước là một luận cứ quá đáng, luận cứ sau th́ sai. Một người biết đến dục vọng không phải v́ gă học được ở nơi cha hắn; họ cũng không cảm thấy đói hoặc giận dữ v́ được dậy dỗ như thế. Đó là bản tính tự nhiên của con người. Ta thụ bẩm tiềm năng triển nở những dục vọng, giận hờn, đói khát. Ta học cách hướng cái đói của ta về những chiếc hamburgers, bực dọc với những chuyến xe đến trễ, và thèm thuồng đối tượng mà ta rất yêu. Và như thế ta đă “đổi” tự nhiên tính của ta. Những khuynh hướng tập tính thẩm nhập vào mọi việc ta làm, và chúng rất uyển chuyển. Không có việc phát triển tập tính mà không có tự nhiên tính. Nói khác đi th́ cũng chẳng khác bảo rằng diện tích của một mặt bằng là do chiều dài của nó xác định, và chiều rộng chẳng can dự chi vào đó cả. Mọi hành vi của ta là sản phẩm của bản năng được rèn qua kinh nghiệm.
Cho đến những năm gần đây, phần lớn những nhà nhân chủng học cũng như những nhà khoa học xă hội vẫn c̣n gắn bó với lối nh́n cho rằng tiến hóa chẳng đáng để mất công nhắc tới. Cơ thể giống người là sản phẩm của sàng lọc tự nhiên; nhưng trí tưởng cũng như hành vi của họ là sản phẩm của “văn hóa”, và văn hóa không phản ảnh bản chất tự nhiên của giống người, mà là ngược lại. Điều này khiến những nhà khoa học xă hội chỉ giới hạn những điều tra của họ về những dị biệt giữa những nền văn hóa và giữa những cá nhân – và nói quá về những dị biệt ấy.
Nhưng với Matt Ridley những điều gây thích thú cho ông về con người lại là những ǵ giống nhau, như ngữ pháp, đẳng trật trong xă hội, t́nh ái lăng mạn, ghen tuông, và những mối dây giữ người ta bền lâu với nhau (hôn nhân chẳng hạn). Đó chính là những bản năng có thể thuần hóa rất đặc biệt đối với giống loài chúng ta và cũng là sản phẩm của tiến hóa như mắt, tai, mũi, họng.

2. CHUYỆN HÔN NHÂN
Với đàn ông, phụ nữ là những cỗ xe chuyên chở những “gien” của họ qua thế hệ kế tiếp. Đối với đàn bà, đàn ông là nguồn chất sống sung măn (tinh trùng) có thể biến trứng của họ thành phôi sinh. Phái này là nguồn hứng khởi của công việc truy t́m của phái kia. Câu hỏi là, bằng cách nào? Có một cách ta có thể khai thác phái kia là tiếp cận càng nhiều người càng tốt, thuyết phục họ “cặp” với ta, rồi sau đó quất ngựa truy phong. Đối cực của lối trên là t́m một bạn t́nh và cùng chia xẻ trách nhiệm nuôi dưỡng con cái như những con hải âu biển bắc (albatross) vẫn làm. Các giống loài đều ở vào một khoảng nào đó trong tầm ấy, tùy theo cá tính riêng của mỗi loài trong “hệ thống cặp bạn” (mating system). Giống người chúng ta ở vào khoảng nào?
Có năm cách ta có thể thấy. Cách đầu tiên là nghiên cứu những người đương thời và mô tả cách thức họ “cặp” (mating) với nhau. Câu trả lời thường là hôn nhân đơn thê. Cách thứ nh́ là nh́n vào lịch sử nhân loại và thần linh trong quá khứ của chúng ta coi xem những sắp đặt tính dục nào là đặc trưng cho giống loài của chúng ta. Nhưng lịch sử lại chỉ cho thấy một bài học lỗi thời: sắp đặt thường thấy nơi loài người là bọn đàn ông thừa tiền, nhiều quyền thường giữ riệt nô t́ trong cung cấm. Cách thứ ba là nh́n vào những người sống trong những xă hội đơn giản với tŕnh độ kỹ thuật thời kỳ Đồ Đá và phỏng định rằng họ sống như tổ tiên chúng ta cách nay mười thiên niên kỷ. Họ thường rơi vào hai thái cực: ít đa thê hơn so với người thuộc những nền văn minh sớm sủa của nhân loại, và kém phần đơn thê so với người trong thời hiện đại. Kỹ thuật thứ tư là nh́n vào những chủng loại rất gần với ta: những linh trưởng (apes) và làm so sánh giữa hành vi cũng như giải phẫu giữa ta với chúng. Câu trả lời là tinh hoàn của giống người không đủ lớn cho một hệ thống chung chạ như nơi bọn khỉ đột, và tạng người cũng không lớn như đười ươi để cai quản hệ thống cung cấm như giống này (có một liên hệ cứng rắn giữa cung cấm đa thê nơi một chủng loại và sự khác biệt về thể tạng giữa giống đực và giống cái trong chủng loại ấy). Giống người chúng ta không quá thiếu tính xă hội và phải điều chỉnh ḷng trung trinh như những con vượn (gibbon) đơn thê. Chúng ta ở vào giữa khoảng ấy. Phương pháp thứ năm là so sánh con người với các loài thú khác cùng chia những thói quen giao tiếp xă hội cao như chúng ta: những đàn chim, khỉ, và cá heo. Như chúng ta sẽ thấy sau đây, bài học mà chúng dạy cho chúng ta là chúng ta đă được phác thảo thành một hệ thống đơn thê bị nạn ngoại t́nh hoành hành.
Nhưng ít ra th́ ta cũng có thể loại ra ngoài một vài trường hợp. Có những điều riêng cho giống loài của chúng ta như việc h́nh thành mối giao kết lâu dài giữa những người chia xẻ ái dục cho nhau, ngay khi họ là những kẻ đa thê. Chúng ta không giống những con gà gô mà những cuộc hôn phối chỉ kéo dài vài phút. Chúng ta cũng không là loài đa phu, như loài chim cao cẳng nhiệt đới Jacana (họ Jacanidae) mà những con mái dữ dằn khống chế những “cung cấm” gồm toàn những con đực dễ bảo. Chỉ có một hệ đa phu thật sự trên hành tinh của chúng ta, mà ta có thể thấy ở Tây Tạng, gồm những phụ nữ lấy hai anh em, hoặc nhiều anh em cùng lúc và cùng chung sống dưới một mái gia đ́nh có sức sống về mặt kinh tế trên vùng đất khắc nghiệt trong khi đàn ông chăn các bầy trâu yaks để nuôi sống phụ nữ. Tham vọng của ông chồng bé (đối lại với vợ bé) là rời bỏ tổ ấm ấy và có vợ riêng của ḿnh, v́ vậy chế độ đa phu rơ ràng là kết quả tốt vào bậc nh́ đối với anh ta [đọc Người đàn bà đa phu ở Tây Tạng]. Chúng ta cũng không giống những con chim cổ đỏ (robin) hay vượn là những loài thú mà địa vực đối với chúng hết sức quan trọng. Mỗi cặp độc chiếm và bảo vệ suốt đời khu vực sinh cư của chúng. Chúng ta làm hàng rào, nhưng nhà của chúng ta có khi ta cũng chia cho những người thuê mướn; và phần lớn đời ta, ta cùng sống với những người khác trên những vùng địa bàn chung khi cùng làm việc, mua sắm, du lịch hay giải trí.

3. GIỐNG NGƯỜI SỐNG THÀNH NHÓM
Ta đă thấy là phần lớn loài người hiện nay đang sống trong những xă hội đơn thê, nhưng điều này chỉ cho thấy đó là kết quả của dân chủ mà ra, không phải là điều mà bản chất con người t́m đến. Ta cứ thử nới lỏng những luật cấm đa thê, và ta sẽ thấy hậu quả ngay tức th́. Utah là vùng mà đa thê đă được thừa nhận về mặt thần học. Những năm gần đây ta thấy những kẻ đa thê nơi đây ít bị khởi tố, và thói quen đa thê đă lại quay trở lại. Dẫu cho những xă hội đông đảo nhất là đơn thê, nhưng đến khoảng ba phần tư của tất cả những nền văn hoá là đa thê, và nhiều nơi chỉ có vẻ bề ngoài là đơn thê mà thôi. Xuyên suốt lịch sử ta thấy những kẻ quyền thế thường có nhiều hơn một người “phối giống”, dẫu là họ chỉ có một bà vợ chính thức hợp pháp. Tuy nhiên đó là chuyện của kẻ quyền uy. Số c̣n lại, ngay trong những xă hội đa thê cởi mở, phần lớn đàn ông chỉ có một vợ, và hầu như các bà, mỗi bà cũng chỉ có một đức ông chồng. Điều này chẳng đưa ta tới đâu cả. Nhân loại lúc th́ đa thê, khi th́ đơn thê, tùy trường hợp. Đúng ra nếu ta bảo rằng loài người có nguyên một hệ thống “phối giống” th́ có lẽ ta thuộc vào hạng điên mất. Đơn giản là họ làm điều họ muốn, và thích nghi thái độ của họ khi có cơ hội xảy đến.

4. KHI GIỐNG ĐỰC LÀM QUYẾT ĐỊNH VÀ GIỐNG CÁI VE VĂN
Cho tới mới đây thôi nhiều nhà theo thuyết tiến hóa đă có cái nh́n khá đơn giản về những hệ thống phối giống dựa trên những dị biệt căn bản giữa nam và nữ. Nếu những kẻ quyền thế cứ theo lối của họ th́ không chừng phụ nữ hết thảy sẽ sống trong những cung cấm như bầy hải cẩu; mà điều này là bài học chắc chắn của lịch sử. C̣n nếu đàn bà có cách của họ th́ đàn ông hẳn sẽ trung thành chẳng khác ǵ những con hải âu biển bắc.
Dẫu rằng những nghiên cứu đă thay đổi giả định này, th́ cũng c̣n một sự thật là giống đực thường là những kẻ quyến rũ phái đối nghịch và giống cái là những kẻ chịu sự quyến rũ ấy. Nhân loại cùng chia cái h́nh ảnh những con đực mạnh mẽ, đa thê và những con cái trung thành, bẽn lẽn với khoảng 99% các động vật trên thế giới này, kể cả các con tương cận với giống người chúng ta: những linh trưởng cấp cao (apes).
Ta thử xem trường hợp cầu hôn. Ngay trong những xă hội rất mực phóng khoáng ở Phương Tây, ta cũng thấy thường là người nam đưa đề nghị hỏi vợ và người nữ sau đó sẽ trả lời. Thật sự ta thấy đàn ông có màn qú gối cầu hôn nhưng họ “bàn bạc” b́nh đẳng với bạn gái của họ, và họ vẫn luôn là người đưa đề nghị ra trước. Trong vấn đề lôi cuốn phụ nữ, đàn ông cũng đi bước đầu. Phụ nữ cũng có thể tán trước nhưng người chụp bắt cơ hội vẫn là anh đàn ông.
Sao lại có chuyện như vậy? Những nhà xă hội học sẽ bảo rằng đó là v́ người ta đă bị điều kiện hóa (y như chó chảy nước dăi trong những thí nghiệm của Pavlov), và họ cũng có phần đúng. Nhưng câu trả lời như thế chưa đủ v́ trong một thí nghiệm lớn lao về con người được gọi là những thí nghiệm của thập niên 1960 về điều kiện hóa, nhiều khía cạnh của điều kiện hóa đă bị bác khước, nhưng mẫu mực (pattern) vẫn sống c̣n. Ngoài ra, việc điều kiện hóa chỉ củng cố bản năng hơn là gạt nó qua một bên. Qua một nghiên cứu của Robert Trivers vào năm 1972 những nhà sinh học đă t́m ra một giải thích thỏa đáng cho câu hỏi tại sao những thú đực là những kẻ đeo đuổi dai dẳng hơn giống cái và tại sao lại có những biệt lệ. Có lẽ không có lư do ǵ để ta không áp dụng giải thích này vào giống người. Phái nào phải dành nhiều công sức đầu tư nhiều nhất trong việc sáng tạo và nuôi dưỡng con, là phái “được” ít nhất trong bất kỳ cuộc phối giống thêm vào nào khác. Một con công đực tặng cho một chị công mái một chút ân huệ: chỉ một ít tinh dịch mà thôi. Nó chẳng phải canh chừng những con công đực khác xáp lại gần con mái ấy, cho con mái ăn, bảo vệ nguồn thực phẩm cho con mái, giúp con mái ấp trứng, nuôi con. Tất cả những việc ấy chỉ ḿnh con mái phải làm. Do vậy phối giống với con đực là một thương lượng bất b́nh đẳng. Con mái đem đến một hứa hẹn trong nỗ lực vô bờ của nó là khiến tinh trùng của con đực thành những con công mới; c̣n con đực chỉ đem lại tí chút đóng góp. Con mái có thể chọn bất kỳ con đực nào mà nó ưng và không cần chọn thêm con nào khác. Nói cho gọn chàng công ta chẳng mất mát ǵ và “được” khá nhiều khi phối giống với bất cứ con mái nào xáp lại gần nó; c̣n con mái vừa mất thời gian, vừa mất năng lực cho một cú “được cuộc” phù vân. Mỗi lần công đực gù một chị mái mới, hắn trúng số v́ chị mái đă dồn mọi công sức cho lũ con của gă. Mỗi lần chị mái gù một anh đực, chị ta chỉ được thêm có chút xíu tinh dịch, mà có lẽ chị ta không thật cần tới. Không ngạc nhiên ǵ khi gă đực thích phối giống nhiều lần, c̣n chị mái chỉ để ư tới phẩm chất mà thôi.
Trên b́nh diện con người ta có thể bảo là đàn ông có thể có thêm đứa con khác bất cứ khi nào anh ta “cặp” với một phụ nữ khác, trong khi đó phụ nữ chỉ có thể mang thai một lần với một người đàn ông vào một lúc nào đó mà thôi. Chúng ta dám cuộc rằng Casanova đă để lại cho hậu thế nhiều hậu duệ hơn là con-điếm-thành-Babylon rất nhiều. Sự bất cân xứng căn bản này giữa các phái tính có liên quan đến sự sai biệt giữa tinh trùng và trứng. Vào năm 1948 một khoa học gia người Anh là A.J. Bateman đă cho loại ruồi trái cây phối giống tự do. Ông ta nhận thấy là những con ruồi cái thành công nhất (phối giống rất nhiều lần) cũng chẳng sanh sôi nẩy nở ǵ hơn so với những con ít thành công hơn, nhưng những con đực xuất sắc th́ số lần giao phối hơn hẳn những con đực kém cỏi.
Sự bất quân b́nh này đă được củng cố rất mạnh qua tiến hóa trong việc giống cái chăm sóc con cái, mà rơ rệt là lên tới tột đỉnh nơi loài có vú. Một con cái thuộc loài có vú đẻ con sơ sinh to lớn – con sơ sinh đă nằm trong bụng mẹ một thời gian dài; trong khi đó để trở thành cha, con đực chỉ cần bỏ ra vài giây (!!!). Phụ nữ không thể tăng bội số con bằng cách tăng thêm số lần giao phối; đàn ông th́ khác. Và qui luật áp dụng cho loài ruồi trái cây vẫn dùng được cho trường hợp của người. Chẳng hạn đàn ông hai vợ có nhiều khả năng có nhiều con hơn là phụ nữ hai đời chồng.
Không chung thủy và măi dâm là những trường hợp đa thê đặc biệt khi không có sợi dây hôn nhân ràng buộc giữa các bên. Điều này đặt vợ của người đàn ông và người t́nh của hắn ta vào những phạm trù (xă hội) khác nhau có quan hệ đến mức đầu tư mà gă đàn ông dành cho những đứa con của ḿnh. Đàn ông có đủ khả năng sắp xếp công ăn chuyện làm, dành thời gian và tiền bạc để hỗ trợ cùng lúc hai gia đ́nh thường là người giàu có, mà cũng là loại đàn ông hiếm có.

5. PHÁI TRỌNG NỮ VÀ PHALAROPES
Qui luật cho rằng việc chăm sóc, nuôi nấng con cái qui định hệ đa thê (hay đa phu). Ta có thể thử nghiệm ngược lại bằng cách nh́n vào những trường hợp ngoại lệ. Nơi những con hải mă (sea horses) con cái có một loại “dương cụ” (penis) mà nó dùng để bơm trứng vào người con đực, và như thế đảo ngược phương pháp phối giống mà ta thường thấy. Trứng phát triển trong thân con đực, và theo như lư thuyết đă dự đoán, th́ chính con cái đă ve văn con đực. Trong các loài chim có khoảng ba chục giống đa phu, mà những con phalaropes và jacanas là những thí dụ được biết đến nhiều nhất. Con cái to lớn, vạm vỡ và hung hăng ve văn con đực nhỏ con, xuề x̣a. Rồi chính con đực ấp trứng và nuôi con.
Những con phalaropes và những giống “cái-gù-đực” khác là những biệt lệ chứng tỏ luật tắc này. Những nhà nghiên cứu đă từng thấy nguyên bày mái gù phalaropes bám riết một con đực khiến chàng ta muốn chết ngộp. Sao lại có chuyện lạ vậy? V́ những chàng đực ngồi yên trên đống trứng của các nàng, những nàng phalaropes hết chuyện làm này không c̣n việc ǵ khác hơn là t́m cách “cặp” thêm nữa. Khi giống đực dành nhiều thời gian và sức lực chăm sóc bầy con th́ phái kia sẽ là phái nảy ra sáng kiến đi ve văn – và ngược lại.
Nơi giống người, sự bất cân xứng đă đủ rơ: chín tháng mang nặng đẻ đau so với “năm phút” (!?) huy hoàng thoáng qua. Nếu chính sự quân b́nh của những nỗ lực chăm sóc con cái xác định vai tṛ của phái nào trong việc ve văn phái kia th́ ta hẳn người ta không c̣n ngạc nhiên là tại sao đàn ông lại thường làm chuyện này hơn phái nữ. Điều này cũng cho thấy là ở những xă hội mà tính đa thê cao, nó cũng là biểu tượng của chiến thắng vinh quang của nam giới, và đơn thê là biểu tượng của niềm quang vinh của nữ giới. Nhưng xem chừng ta đă trật đường. Xă hội đa thê thật ra chỉ đại diện cho vinh quang của một hay một ít người so với số đông nam giới trong những xă hội ấy. Ở những xă hội đa thê năng nề kiểu ấy th́ phần lớn đàn ông phải ở giá.
Trong bất kỳ trường hợp nào, ta không thể rút ra được bất cứ kết luận đạo đức nào do tiến hóa đem lại. Sự bất quân b́nh trong những nỗ lực tính dục tiền sinh sản (prenatal) giữa các phái là một thực tại của cuộc sống, không phải là một cuộc cưỡng dâm đạo đức. Nó là “tự nhiên”. Là con người, ta rất dễ bị cám dỗ bởi bối cảnh tiến hóa ấy v́ nó như muốn “xác minh” một thiên kiến nghiêng về phía bay bướm, đa t́nh của giống đực, hoặc ta khước từ nó v́ nó hàm chứa những áp lực đ̣i quyền b́nh đẳng giữa hai phái. Thật ra nó chẳng thiên về bên nào cả. Tuyệt đối nó không nói phía nào đúng, phía nào sai. Theo Matt Ridley, ông đă nói rơ là ông không đứng về phe nào. Ông chỉ cố t́m cách giải thích bản chất con người. Hành vi giết người (murder) là “tự nhiên” hiểu theo nghĩa là những loài tương cận với giống người thường hành động như thế, mà h́nh như tổ tiên xa xưa của chúng ta cũng đă hành động như thế. Thiên kiến, hận thù, bạo nghịch, tàn ác – tất cả đều ít nhiều là một phần của tự nhiên tính nơi giống người, và có thể chuyển hóa bằng những tập tính đúng đắn. Nhiên tính không phải là không uyển chuyển mà là có thể rèn luyện được. Hơn thế điều tự nhiên nhất trong tất cả những điều về tiến hóa là một vài tính tự nhiên sẽ bị đối đầu bởi những tính tự nhiên khác. Tiến hóa không dẫn ta tới Không-tưởng (Utopia). Nó đưa tới vùng đất mà điều tốt nhất cho kẻ này có thể là điều tồi tệ nhất cho kẻ khác, điều tốt nhất cho phụ nữ này cũng có thể là điều tồi tệ nhất cho người đàn ông kia. Kẻ này hoặc người kia bị buộc phải chịu một số phận “không được tự nhiên”.
(Theo Matt Ridley, trong “The Red Queen – Sex and evolution of human nature”)
*** Hết phần Một ***

SẦU ĐÔNG.

Chú thích:
[1] Matt Ridley là nhà động vật học người Anh, tác giả của nhiều sách viết về khoa học dưới lối nh́n của một người theo thuyết tiến hóa. Những sách ông viết như “Genome: The Autobiography of a Species in 23 Chapters”, “Nature via Nurture: Genes, Experience, and What Makes Us Human”, “The Origins of Virtue: Human Instincts and the Evolution of Cooperation”, và mới đây cuốn “The Red Queen: Sex and the Evolution of Human Nature” đều là những tác phẩm nổi tiếng được người đọc khắp nơi hâm mộ, và được b́nh chọn trong số nhiều giải thưởng văn chương, kể cả giải thưởng Book Prize của tờ Los Angeles Times. Là nhà khoa học, nhà báo (cựu chủ bút tờ The Economist) và cây bỉnh bút của nhiều tờ báo nổi tiếng như The Washington Post, The New York Times, ông hiện là giáo sư thỉnh giảng của Cold Spring Harbor Laboratory ở New York và là chủ tịch của International Centre for Life ở New Castle, Anh Quốc.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved