Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Khi nhận được tin anh Nguyễn Quốc Hùng qua đời trong mùa Giáng Sinh vừa qua, mặc dù đă được chuẩn bị trước về tinh thần (v́ chúng tôi thường xuyên liên lạc với anh chị Hùng ở Canada), tôi vẫn bị “sốc”. Anh chị Hùng đă đi thăm Trung Quốc, sau đó đi thăm 4 nước Pháp, Ư, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha với VOYAGES SAIGON. Là người rất yêu và am hiểu về văn hóa Trung Quốc, từ lâu anh vẫn ấp ủ giấc mơ được đi chơi vùng Tam Hạp nổi tiếng trên sông Dương Tử, và thăm Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Hán (Hồ Bắc). Khi phát hiện ḿnh bị ung thư phổi vào cuối năm 2002, anh rất b́nh tĩnh (anh bảo “tôi đă hút thuốc mấy chục năm nay nên không ngạc nhiên về hậu quả này, chỉ tiếc là tôi vẫn c̣n muốn đi du-lịch nhiều nơi với anh Chính”), đồng thời cũng rất lạc quan (anh bảo “chắc chắn là sang năm [2004] tôi và bà xă sẽ đi chơi sông Dương Tử”). Trước khi mất, anh nói với chị “thôi thế là anh không c̣n cơ hội thực hiện chuyến đi ấy nữa rồi!”, và dặn chị thế nào cũng phải đi, dù đi một ḿnh.
Cho nên tôi viết “Tản mạn sông Dương Tử, thơ Lư Bạch” này trước hết là để tưởng nhớ anh, một khách hàng thân quen và một người bạn vong niên mà tôi rất quư mến.
TRẦN CHÍNH.
(California, Jan 28, 2004)

[Đọc Thơ ĐườngNgười mê phở nói chuyện phở của Nguyễn Quốc Hùng]


TẢN MẠN SÔNG DƯƠNG TỬ, THƠ LƯ BẠCH

Lâu rồi, dễ cũng đă hơn 3 năm, anh T.M.Q., một khách hàng dễ mến, ghé qua tiệm của chúng tôi để hỏi về chương tŕnh Tour Trung Quốc - Sông Dương Tử. Hôm ấy tôi có nhà nên được cái may mắn tiếp chuyện anh và chúng tôi ngồi tán gẫu với nhau cũng khá lâu. Anh Q. cho biết anh từng du học và sống ở Nhật nhiều năm, rằng anh rất mê Văn học và Thơ ca Cổ-điển của Nhật Bản và Trung Quốc, và anh đưa ra nhận định rằng “Thơ Đường là tài sản Văn hóa chung của nhân loại chứ không riêng của Trung Quốc”. Nhận định của anh chẳng những hay mà c̣n rất đúng. Rồi bàn về nhà thơ Lư Bạch (701-762), anh nhận xét rằng tôi có vẻ thích Lư Bạch, bởi v́ tôi thường hay nói về Lư Bạch cũng như trích dẫn thơ của họ Lư trong các buổi nói chuyện của tôi với thính giả của chương tŕnh phát thanh “Sống vui - Du lịch”. Anh c̣n đưa ra ư kiến rằng tuy Lư Bạch có cống hiến rất lớn cho nền Thi ca Cổ-điển Trung Quốc, nhưng thơ của ông nh́n chung thiếu cái vị cao nhă, do đó mà lăng mạn một cách dung tục.
Trước hết, về việc tôi hay nói về Lư Bạch, th́ tôi trả lời anh rằng “thí dụ một người nào đó thường hay nói về mẹ vợ của ḿnh th́ không có nghĩa là anh ta rất yêu bà mẹ vợ ấy”, suy luận đơn giản như thế e có hơi vơ đoán chăng? Tuy nhiên, quả thật là tôi rất yêu thơ của Lư Bạch, bởi v́ nếu chúng ta h́nh dung nền Thi ca đời Đường như một bầu trời đêm được thắp sáng bởi hàng ngh́n v́ sao lấp lánh, th́ ở trong bầu trời ấy Lư Bạch cùng hai Thi hào khác là Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị quả xứng đáng là ba v́ tinh tú lớn nhất, rực rỡ chói lọi nhất. Nhưng bên cạnh đó, tôi c̣n ngưỡng mộ những gương mặt kiệt xuất khác đă góp phần không nhỏ vào việc h́nh thành thời đại hoàng kim của Thơ ca Cổ-điển Trung Quốc, như Vương Bột, Trần Tử Ngang, Hạ Tri Chương, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Thôi Hiệu, Trương Kế..., đấy là chỉ kể ra đây những cái tên được hậu thế nhắc đến nhiều nhất. Như thế có nghĩa là tôi không phải chỉ yêu có mỗi ông Lư Bạch! C̣n về cái ư phê phán thơ Lư Bạch “lăng mạn một cách dung tục” th́ tôi đoán là ông bạn khách hàng của tôi bị ảnh hưởng bởi quan điểm của Vương An Thạch (1021-1086) đời Bắc Tống. Họ Vương từng phê b́nh Lư Bạch một cách nghiêm khắc rằng: “Thơ của Lư Bạch kiến thức nhơ bẩn, thấp kém, trong mười câu th́ hết chín câu nói đến gái và rượu”. Là một nhà trí thức lớn, học rộng hiểu nhiều, đồng thời lại là một chính trị gia sắc sảo, từng được đề bạt lên đến chức Tể tướng, Vương An Thạch chắc hẳn đă không thoát khỏi cái nếp xấu của tầng lớp sĩ phu có quyền thế và được trọng vọng, tức là cái thói kiêu ngạo “mục hạ vô nhân” và đầu óc gia trưởng. Cho nên tôi không ngạc nhiên chút nào về lời nhận xét hơi “nặng tay”, dễ mích ḷng mà họ Vương dành cho họ Lư, một người đă sống trước ông hơn ba trăm năm và từng được gọi là bậc “Thi Tiên”. Ông bạn khách hàng của tôi th́ nhận xét lịch sự hơn khi anh bảo “Thơ của Lư Bạch thiếu cái chất cao nhă...”, nhưng tôi biết anh cũng ngụ ư: “...trong mười câu th́ hết chín câu nói đến gái và rượu”. Về khoản “gái” trong thơ Lư Bạch th́ tôi không dám lạm bàn, nhưng riêng về khoản “rượu” th́ Tể tướng họ Vương đă đưa ra một nhận xét về căn bản là đúng. Ai cũng biết Lư Bạch là một người nghiện rượu nặng, và phong thái sống cuồng phóng của ông là phong cách của một bợm nhậu không hơn không kém. Chẳng những họ Lư thường xuyên sáng tác thơ trong những cơn say chuếnh choáng, mà nhiều bài thơ của ông, mặc dù đă cũ hàng ngh́n năm, nay giở ra đọc lại vẫn c̣n nồng nặc mùi rượu. Thế nhưng chúng ta có nên vội vàng kết luận rằng thơ của Lư Bạch “lăng mạn một cách dung tục”, và chỉ toàn hơi hướm của rượu và đàn bà hay không?
Trong tháng 11 năm 1997, tôi trở lại Trùng Khánh trong tỉnh Tứ Xuyên để thăm một người bạn, sau đó tôi lấy tàu đi chơi sông Dương Tử một ḿnh. Chuyến đi ấy rất lạnh v́ là mùa thu, nhưng lại may mắn cho tôi v́ nó rơi vào những ngày có trăng. Một đêm, khi tàu bỏ neo trên sông để nghỉ qua đêm, tôi nai nịt thật ấm và đi ra ngoài boong tàu đứng tha thẩn chơi. Khi thả bộ về phía đuôi tàu, tôi bất chợt gặp ông thuyền trưởng đang đứng một ḿnh hút thuốc; Có cái ǵ đó buồn bă và trầm mặc trong tàn lửa đỏ khi lóe khi tắt của điếu thuốc đốt trong đêm. Tôi lại gần làm quen, và chúng tôi tán gẫu với nhau một trăm thứ chuyện trên đời, từ chuyện gia đ́nh vợ con, chuyện ăn uống nhậu nhẹt và những chuyện linh tinh vô bổ khác, cho đến chuyện thế giới đại cục... Nhưng chúng tôi tuyệt nhiên không bàn ǵ đến chuyện văn chương thi phú, mặc dù đêm hôm ấy ngay trên đầu của chúng tôi treo lơ lửng một ánh trăng gần tṛn và sáng vằng vặc. Ánh trăng ấy tỏa một vầng sáng xanh dịu nhẹ, cái màu xanh mờ đục như trải ra trên mặt sông, khiến tôi nhớ đến câu thơ của Bạch Cư Dị: “nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn”, “quanh thuyền trăng sáng nước sông lạnh”.
Tôi được biết ông thuyền trưởng ấy lớn hơn tôi gần chục tuổi, mặc dù trông anh trẻ hơn tuổi thật của ḿnh. Anh người ở Giang Tô, c̣n vợ anh là người Hồ Nam. Giữa câu chuyện đang bàn về những món ăn Hoài An của miền Giang Nam, có một lúc bất chợt anh chỉ tay về phía trước mặt và nói với tôi: “Phía xa xa kia là tỉnh Hồ Nam, nơi ngày xưa nhà thơ Vương Xương Linh đi đày sau khi bị biếm chức. Con người khí khái ấy chỉ v́ cái tính hay đùa cợt mà bị mắc tội”. Hạ thấp giọng, anh nói như tâm sự: “Bản thân tôi cũng v́ cái tính bộc trực, hay nói thẳng mà bị cấp trên để ư, cho nên hơn mười năm nay vẫn cứ giậm chân tại chỗ trong ngành nghề, và cứ măi ngược xuôi trên con sông Dương Tử này”. Rồi anh cười ha hả và bảo: “Ông biết không, ông Vương Xương Linh là người cùng quê với tôi đấy”. À, th́ ra con người này cũng đang bị lưu đầy! Đêm hôm ấy, đứng với anh trên boong tàu tắm đầy ánh trăng, tôi không hề nhớ đến cái chi tiết nhà thơ Vương Xương Linh là người Giang Nam, mà lại bất chợt nhớ đến một chi tiết khác, có liên quan đến việc ông bị lưu đày, đồng thời liên quan đến một người bạn của ông là nhà thơ Lư Bạch. Lúc bấy giờ, Lư Bạch đang ở Trường An th́ biết tin Vương Xương Linh bị biếm chức, và đang trên đường đi nhận một chức quan nhỏ ở Long Tiêu, trong tỉnh Hồ Nam. Đau ḷng v́ thương bạn, hiểu bạn mà không thể làm được ǵ để giúp bạn ḿnh trong lúc hoạn nạn, họ Lư đă cảm tác một bài thơ gửi Vương Xương Linh, trong đó hai câu cuối ông viết: “Ngă kư sầu tâm dữ minh nguyệt, tùy quân trực đáo Dạ Lang tây”, “Ḷng sầu tôi gửi cùng trăng sáng, theo gót ông đi đến Dạ Lang”. Hai câu thơ này đẹp và cảm động bởi v́ cùng một lúc Lư Bạch nói với Vương Xương Linh, nói với chính ḿnh, và nói với cả ánh trăng, vị sứ giả đem tâm t́nh của ông đến với bạn ông. Và dù nói với ai đi chăng nữa th́ ông cũng vẫn dùng thứ ngôn ngữ rất giản dị, gợi lên h́nh tượng đẹp đẽ, và tải chứa những t́nh cảm rất con người, bất kể thời đại. Do đó mà tôi thấy thơ của Lư Bạch lúc nào cũng cập nhật, tuy cũ mà vẫn mới, tuy cổ điển mà vẫn hiện đại. Tôi yêu thơ của họ Lư v́ thơ của ông giản dị mà không tầm thường, khinh bạc mà không khinh thị, lăng mạn mà không hề dung tục. Cho nên tôi cho rằng Vương An Thạch có hơi khiếm nhă khi ông phê b́nh thơ Lư Bạch là “nhơ bẩn và thấp kém, chỉ toàn gái và rượu”. Ngài Tể Tướng họ Vương lỡ như nghe được ư kiến phản bác có tính cách “sinh sự” của tôi ở đây th́ cũng xin ngài rộng lượng bỏ qua cho kẻ hậu sinh to gan lớn mật này!
Cũng liên quan đến con sông Dương Tử, có một bài thơ khác của Lư Bạch mà tôi rất thích. Đó là bài “Tảo phát Bạch Đế thành”, trong đó họ Lư kể lại việc ông từ thành Bạch Đế vượt qua vùng Tam Hạp trên sông Dương Tử để đi về Giang Lăng trong tỉnh Hồ Bắc. Thành Bạch Đế nằm ngay phía trước cửa sông Quỳ Môn, nơi con sông Dương Tử ồ ạt đổ vào khe núi đầu tiên là Quắc Đường Hạp (c̣n gọi là Quỳ Hạp). Thành Bạch Đế thuộc nước Thục vào đời Tam Quốc (thế kỷ thứ 3), có cung Vĩnh An là nơi Thục Vương Lưu Bị sau khi bị Đông Ngô đánh cho đại bại ở Hào Đ́nh, tay trắng trở về, uất ức sanh bệnh mà chết. Năm 759, nhà thơ Lư Bạch cũng ghé qua thành Bạch Đế trên đường phát văng đi Quư Châu v́ mắc tội với triều đ́nh. Chính tại nơi đây họ Lư đă nhận được sắc vua tha tội; Mừng quá, ông vội vàng xuôi gịng Trường Giang để quay trở lại Hồ Bắc, và ông đă sáng tác bài thơ nói trên trong tâm trạng phấn khích của một người vừa được trả lại tự do. Trong bài thơ, tôi thích nhất hai câu đầu “Triêu từ Bạch Đế thái vân gian, thiên lư Giang Lăng nhất nhật hoàn”, nghĩa là “Buổi sáng từ giă thành Bạch Đế ra đi trong vầng mây sáng đẹp, Giang Lăng xa hàng ngh́n dặm thuyền chỉ đi một ngày là về đến nơi”. Câu đầu tiên hoàn toàn có tính cách mô tả, và đă từng gây nhiều tranh căi, bởi v́ lối mô tả của nhà thơ vẽ ra trước mắt chúng ta một cảnh tượng đẹp đến nỗi chúng ta đâm nghi ngờ không biết nó có thật hay không. Họ Lư chỉ dùng ba chữ “thái vân gian” mà hiệu quả mô tả thật là kỳ diệu. “Vân” là mây, “thái” có nghĩa là sáng đẹp rực rỡ, và “gian” có nghĩa là đi vào khoảng giữa hay đi vào bên trong; Như vậy có thể hiểu “thái vân gian” là thuyền của họ Lư trôi vào giữa một vầng mây sáng đẹp rực rỡ. Cảnh như thế th́ nhất định phải là cảnh tiên rồi chứ c̣n ai dám nghĩ rằng đó là cảnh thật?
Mùa thu năm ấy, lần đầu tiên đi qua vùng Tam Hạp trên sông Dương Tử, tôi đă tự nhủ là phải t́m hiểu tại chỗ xem cái cảnh sắc lạ lùng mà Lư Bạch tả trong câu thơ ấy có đúng thật như vậy không. Tôi c̣n nhớ lúc bấy giờ là một buổi sáng cuối thu, bầu trời ngả xám, gió trên sông thổi lạnh và ẩm. Khi tàu bắt đầu tiến vào cửa sông Quỳ Môn, tôi ra đứng trước mũi tàu và tưởng tượng rằng ḿnh đang đứng trên chiếc thuyền năm xưa của Lư Bạch... xuôi thiên lư về miền Giang Lăng! Cảnh tượng của những vách núi cao đầy nét trầm hùng ẩn hiện trong sương khói bàng bạc khiến tâm hồn tôi tràn ngập một nỗi xúc động khó tả. Nhưng bên cạnh đó, tôi lại thất vọng v́ không hề nh́n thấy cái cảnh “ra đi giữa vầng mây sáng đẹp” tả trong thơ của Lư Bạch đâu cả. Tôi thầm trách họ Lư đă gạt gẫm tôi và những người yêu thơ của ông. Năm 1999, trở lại vùng Tam Hạp lần thứ hai, cũng vào mùa Thu, tôi lại cố t́m hiểu một lần nữa, và lại cũng thất vọng y như lần trước, bởi v́ cũng vẫn chẳng nh́n thấy cái cảnh “thái vân gian” tuyệt đẹp ấy ở đâu cả. Lần này th́ tôi đâm bực nhà thơ Lư Bạch: “chán tiên sinh quá, ông làm thơ và tả cảnh th́ hay tuyệt, nhưng sao mà lại điêu thế?”
Thế nhưng, cuối cùng, chính tôi mới là người hồ đồ! V́ đă trách oan Lư Bạch. Bởi v́, cuối cùng, chính tôi đă được tận mắt nh́n thấy cái cảnh tượng đẹp lạ lùng, tưởng chừng như không có thật, mà lại hoàn toàn có thật ấy! Đó là vào đầu tháng 7 năm 2001, trong chuyến du-lịch “Trung Quốc mùa Hè” đi chơi sông Dương Tử của chúng tôi. Đoàn chúng tôi khởi hành từ Trùng Khánh, và ngày đầu tiên chúng tôi lênh đênh trên sông lớn, buổi chiều ghé vào thăm thành phố Phong Đô, gần tối th́ đến Phụng Tiết nơi tàu thả neo nghỉ qua đêm. Tôi dặn ḍ mọi người trong đoàn là phải chuẩn bị tinh thần để sáng sớm hôm sau tàu sẽ nhổ neo và bắt đầu đi vào vùng Tam Hạp. Sáng hôm sau, mặc dù đoàn khá đông, nhưng tất cả chúng tôi đều thức dậy sớm và ăn sáng cũng rất sớm. Tôi ăn qua loa cho xong rồi vội vàng ôm chiếc máy ảnh cùng mọi người trong đoàn chạy ra mũi tàu. Tôi c̣n nhớ rất rơ sáng hôm ấy là một buổi sáng mùa hè tuyệt đẹp. Bầu trời trong, xanh biếc và quang đăng. Đúng 8 giờ, tàu nhổ neo và từ từ tiến về phía cửa sông Quỳ Môn. Trên boong tàu người ta bắt đầu b́nh giảng bằng 3 thứ tiếng chính là tiếng Hoa phổ-thông, tiếng Anh và tiếng Nhật. Riêng tôi phụ trách phần b́nh giảng bằng tiếng Việt cho đoàn của chúng tôi. Khi tàu đi qua trước thành Bạch Đế, trong đầu tôi bỗng bật ra cái tên Lư Bạch và câu thơ “Triêu từ Bạch Đế thái vân gian”... Và trước mắt chúng tôi, giống như một giấc mơ, cảnh thuyền của nhà thơ họ Lư ra đi vào một buổi sáng sớm “giữa vầng mây sáng đẹp” bỗng hiện ra, thần diệu không bút mực nào có thể tả xiết!
Tàu vừa bỏ thành Bạch Đế lại phía sau lưng, th́ chúng tôi đă nh́n thấy cửa sông Quỳ Môn hiện ra phía trước mặt. Nước sông Dương Tử cuồn cuộn đổ vào Quắc Đường Hạp, và dưới ánh quang thiều của buổi sáng mùa hè, hơi nước bốc lên thành những giải mây nhiều tầng sáng rực – có tầng dày và đục như khói, có tầng lại mỏng và trong như sương – lơ lửng ngay trên mặt sông và nối liền những vách núi xếp hàng thẳng đứng, trùng trùng điệp điệp. Tôi có cảm tưởng như tàu của chúng tôi đang từ từ trôi vào giữa những vầng hào quang của một chiếc cầu vồng lớn, trong một bức tranh Sơn Thủy vĩ đại, vừa thi vị vừa trầm hùng. Và lúc bấy giờ tôi mới chợt hiểu v́ sao trong bài thơ kiệt tác của ông, Lư Bạch lại nói “Buổi sáng từ giă thành Bạch Đế ra đi trong vầng mây sáng đẹp rực rỡ...”.
Bài thơ ấy Lư Bạch sáng tác trên sông Dương Tử vào năm Càn Nguyên thứ hai đời Đường, khi ông quay trở lại Giang Lăng trong tỉnh Hồ Bắc. Không lâu sau đó ông đi sang miền An Huy, nơi ông sống những năm tháng ngắn ngủi c̣n lại của đời ḿnh. Có một điều lư thú là tôi t́m đọc khá nhiều tài liệu nhưng không thấy nói cuộc khởi hành từ thành Bạch Đế của họ Lư xẩy ra vào ngày nào, tháng nào trong năm. Nhưng lần ấy, sau khi tận mắt nh́n thấy cảnh con tàu chở chúng tôi đi vào giữa “những vầng mây sáng đẹp” trên sông Dương Tử, tôi có đủ lư lẽ để tin rằng thuyền của Lư Bạch đă rời thành Bạch Đế vào một buổi sáng sớm giữa mùa Hè, nghĩa là cũng trong tháng Bẩy dương lịch, vào khoảng thời gian mà Đoàn du-lịch “Trung Quốc mùa Hè” của chúng tôi đi chơi vùng Tam Hạp. Từ buổi sáng mùa hè của Lư Bạch đến buổi sáng mùa hè của chúng tôi là khoảng cách hơn 1,200 năm! Con sông Trường Giang vẫn c̣n đó, vẫn chảy mănh liệt, cảnh vật hai bên sông vẫn c̣n đây, nhưng người và câu chuyện cảm động ấy th́ đă trở thành người và chuyện của ngh́n năm cũ!
HẾT PHẦN 1.

(Mùa xuân 2004)
TRẦN CHÍNH.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved