Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Xin cảm ơn tác giả Phạm Văn Bân đă gửi bài khảo luận “Ăn Tết Tàu, Tết Ta, nghĩ đến Identity” để chúng tôi đăng trên trang SALADE EsPRESSO vào dịp đầu năm Giáp Thân 2004; Và xin giới thiệu với quư độc giả bài viết rất giá trị này.
SALADE EsPRESSO.


ĂN TẾT TÀU, TẾT TA, NGHĨ ĐẾN IDENTITY

Lịch sử văn minh của loài người xuất phát chỉ từ vài cái “nôi”, rồi từ đó mà phát triển ra khắp nơi trên thế giới. Mỗi quốc gia tùy theo địa lư và môi trường giao tiếp mà hấp thụ nền văn minh chung, văn minh của loài người. Hiện tượng chia sẻ tự nhiên này chính là trào lưu không phân biệt của thế giới ngày nay. Nhận thức chật hẹp hay rộng răi, cổ hủ hay tân tiến, và mặc cho con người muốn hay không muốn th́ trái đất vẫn cứ xoay quanh mặt trời, mặt trăng vẫn cứ nằm trong quỹ đạo của trái đất, cứ thế mà xoay vần, tạo ra thời tiết bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông (1). Lẽ biến Dịch miên miên man man, lúc nào mưa rào nắng hạn, lúc nào cây cối đâm chồi nẩy lộc héo tàn, thảy đều ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến đời sống loài người. Chính trong nhu cầu hiểu biết khí hậu tối cần thiết này mà ngay từ lúc sơ khai, sinh sống bằng nghề nông, đánh cá và săn bắn lệ thuộc vào khí hậu nên loài người khắp mọi nơi đă đặt ra lịch như một phương tiện để đo lường thời gian, rồi dựa vào đó mà điều chỉnh sinh hoạt.
Tựu trung ngày nay, thế giới lưu hành hai loại lịch thông dụng: lịch Gregorian (gọi là dương lịch) tính thời gian theo chu kỳ vận chuyển của trái đất quanh mặt trời, và lịch Tàu (gọi là âm lịch) tính thời gian theo chu kỳ vận chuyển của mặt trăng quanh mặt trời (2). Dương lịch lấy ngày sinh của Chúa Jesus Christ làm năm thứ nhất và cứ thế mà tính thẳng một đường. Âm lịch, trái lại, tính theo chu kỳ 60 năm, hết 60 năm lại ṿng trở lại năm thứ nhất bằng cách kết hợp kư hiệu của 10 thiên can và 12 địa chi (3). Việt Nam dùng âm lịch trong một thời gian dài ít nhất là hai ngàn năm, chịu ảnh hưởng rất nặng của Tàu và vài trăm năm gần đây th́ vừa dùng âm lịch, vừa dùng dương lịch do ảnh hưởng của Pháp.
Một ngày bắt đầu vào lúc nửa đêm. Âm lịch tính theo chu kỳ mặt trăng có 29.5 ngày. Để “bắt kịp” dương lịch, cứ 7 năm trong chu kỳ 19 năm th́ âm lịch thêm vào một tháng, giống như cộng thêm một ngày vào năm nhuận. Đây chính là lư do mà ngày đầu năm âm lịch luôn luôn rơi vào khoảng ngày 21 tháng 1 và 19 tháng 2 của các năm dương lịch. Lễ mừng ngày đầu tiên của một năm, ngày 1 tháng 1 âm lịch, chính là lúc mặt trăng khởi sự mọc (new moon), gọi là Tết Nguyên Đán (nguyên đán: buổi sáng đầu tiên). Theo dương lịch, Tết Nguyên Đán của năm Giáp Thân 2004 nhằm ngày Thứ Năm, 22 tháng 1 dương lịch. Thực ra, nói một cách chính xác, lúc mặt trăng khởi sự mọc là vào lúc 05:05 A.M. (sáng) ngày 22/01 ở bên Tàu; c̣n bên Mỹ là vào lúc 10:05 A.M. (sáng) ngày 21/01 (US Eastern Standard Time), tức lúc 1:05 P.M. (trưa) ngày 21/01 (US Pacific Standard Time).

Tàu bắt đầu sử dụng dương lịch từ năm 1911 nhưng vẫn dùng âm lịch cho các ngày lễ trong một năm. Tết Nguyên Đán thường được người Tàu gọi là Tân Niên 新 年, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và chấm dứt vào ngày 15 tháng 1 với lễ rước đèn. Đây là dịp lễ quan trọng nhất và rộn ràng nhất của họ, dịp để chúc mừng lẫn nhau đă sống qua một năm, tiễn đưa năm cũ và chào đón năm mới. Phong tục mừng tân niên của Trung quốc gồm các nét chính sau đây:
Ngày thứ 1: ngày “nghênh đón Trời Đất”. Nhiều người kiêng ăn thịt trong ngày này để được trường thọ.
Ngày thứ 2: cúng bái ông bà tổ tiên qua bữa cơm sum họp gia đ́nh. Đây cũng là ngày sinh nhật của loài chó nên người ta đặc biệt săn sóc chó, cho ăn uống đầy đủ.
Ngày thứ 3 - 4: ngày dành cho con rể thăm viếng cha mẹ vợ.
Ngày thứ 5: ngày chào đón Thần Tài; không ai đi ra khỏi nhà, không thăm viếng bất cứ ai để tránh mang rủi ro đến cho người khác.
Ngày thứ 6 - 10: không kiêng, tha hồ đi thăm viếng thân nhân và bạn bè. Người ta cũng đi chùa để cầu xin sức khỏe và phát tài.
Ngày thứ 7 dành cho nông dân trưng bày sản phẩm, uống rượu cùng với bảy loại rau cải để ăn mừng. Đây cũng là ngày sinh nhật chung cho tất cả mọi người. Mọi người ăn ḿ để được sống lâu và ăn cá để được thành công.
Ngày thứ 8 không có ǵ đáng ghi nhận.
Ngày thứ 9: cúng dâng lễ vật lên Ngọc Hoàng.
Ngày thứ 10 - 12 dùng để mời thân nhân và bạn bè đến ăn cơm tối.
Ngày thứ 13 dùng để tẩy ruột sau khi đă ăn quá nhiều thịt cá. Chỉ ăn cháo trắng mà thôi.
Ngày thứ 14 chuẩn bị cho lễ rước đèn vào đêm thứ 15 để kết thúc tân niên.
Chữ niên có một nguồn gốc rất xa xưa! Niên 年 (Pinyin: nian, tiếng Việt mượn đúng nguyên âm, nguyên nghĩa của tiếng quan thoại, đọc là niên, dùng lâu đời thành tiếng Việt, c̣n gọi là tiếng Hán Việt: tân niên, niên giám điện thoại, niên học, niên khóa, niên kỷ, niên đại, niên biểu, niên thiếu, v.v…), năm là tiếng Việt thuần.
Vào thời sơ khai, con người sống đời sống trồng trọt, đánh cá hoặc săn bắn. Các thay đổi thời tiết ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt: lúc b́nh an th́ tụ hợp vui chơi, lúc thiên tai th́ tế “thần” cầu xin tai qua nạn khỏi. Dần dần các lễ hội phát sinh. Mùa Đông giá lạnh trôi qua, bông hoa bắt đầu nở rộ như để chào đón một mùa Xuân an b́nh sắp đến. Người ta tụ hợp và mang thịt, cá, trái cây, lúa gạo ra để chia sẻ, cảm tạ Trời Đất, tổ tiên và ăn uống, ca hát, nhảy múa, v.v… Sau một ṿng quay bốn mùa của thời tiết, chu kỳ lễ hội này lại tái diễn, gọi đó là một niên. Chữ niên có sự tích như sau:
Thời xưa có một con quái vật rất hung dữ tên là niên, hiện ra dưới đủ mọi h́nh dáng. Khi mùa Đông đến, con mồi trở nên hiếm hoi trên núi nên con niên phải chạy vào làng để ăn thịt súc vật và con người. Con người chống lại với con niên một thời gian dài và cuối cùng nhận thấy con niên sợ hăi ba điều: màu đỏ, lửa và tiếng động. V́ vậy, để đuổi con niên vào mùa Đông, người ta bảo nhau treo gỗ đỏ ở trước cửa nhà, đốt lửa trước cổng, và đánh cồng, trống thật lớn suốt đêm. Một đêm Đông nọ, con niên lại ṃ xuống làng, thấy màu đỏ và lửa ở mọi nhà cùng tiếng cồng, tiếng trống vang dậy nên hoảng sợ bỏ chạy trở về núi. Từ đó, con niên không bao giờ dám xuống làng kiếm ăn. Tập quán treo lồng đèn đỏ và đốt sáng suốt đêm bắt nguồn từ huyền thoại này: không cho quái vật vào nhà, sợ giông cả năm. Dán câu đối đỏ trước cửa nhà và đốt pháo đầu năm cũng bắt nguồn từ huyền thoại con niên.

Do hoàn cảnh địa lư và lịch sử quá gần gũi nhau, phong tục ngày tết của Việt Nam rất giống Trung quốc, chỉ khác biệt chút đỉnh. Dưới đây là một số phong tục mà tôi nhận thấy không cần thiết phân biệt tàu và ta làm ǵ v́ đọng lại, tất cả đều là văn minh của loài người:

– Quét dọn nhà cửa: Để đón năm mới, mọi người chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ tháng 12. Ngày 20 tháng 12 được xem là ngày quét dọn nhà cửa. Mỗi một góc nhà phải được quét và lau chùi sạch sẽ. Trong ngày đầu năm, tuyệt đối kiêng quét nhà v́ sợ sẽ quét may mắn đi. Sau ngày này th́ có thể quét nhà nhưng phải quét từ ngoài cửa quét vào trong nhà, giữ rác cho đến ngày mồng 5 mới đổ đi. Kiêng quét từ trong nhà ra khỏi ngưỡng cửa, sợ trong nhà sẽ có người chết và cũng sợ tài lộc sẽ ra đi. Rác rến không mang ra cửa trước, phải mang ra ở cửa sau.

– Sum hợp gia đ́nh: Đêm giao thừa và ngày đầu năm đặc biệt chỉ dành cho việc đoàn tụ gia đ́nh, cúng kiếng Trời Đất và tổ tiên. Giờ phút thiêng liêng nhất là giờ giao thừa, tức là lúc năm cũ chấm dứt và năm mới bắt đầu. Vào thời điểm này, người ta thường cúng gia tiên, gọi là cúng giao thừa. Sau đó, chủ nhà ra vườn hái bất kỳ nhánh lá nào, mang vào nhà xem xét may rủi, rồi trân trọng đặt lên bàn thờ hoặc cắm vào b́nh. Tục này gọi là hái lộc đầu xuân. Thông thường, chủ nhà xin lộc trời đất xong, sẽ xông nhà luôn. Sau đó, cả nhà quây quần bên bữa cơm tối có ư nghĩa rất quan trọng: bữa ăn đoàn tụ để lấy may mắn. Tất cả thành viên trong gia đ́nh đều cố gắng có mặt trong bữa ăn tối giao thừa. Nếu thành viên nào v́ lư do bất khả kháng không thể có mặt th́ vẫn để ghế trống như người đó vẫn có mặt. Ăn xong, con cháu trong gia đ́nh sẽ chúc mừng và bày tỏ ḷng biết ơn đối với cha mẹ và các người lớn tuổi. Nhiều người sau khi đón giao thừa ở nhà lại đi xông đất cho láng giềng, bạn bè.

– Táo quân: Sau khi quét dọn nhà cửa là lúc bắt đầu tạm biệt Táo quân (thần bếp). Phong tục cổ truyền xem Táo quân là người ǵn giữ sức khỏe cho mọi người trong gia đ́nh, có lẽ v́ ngày xưa, cơm nước là vấn đề rất quan trọng: bịnh tùng khẩu nhập. Táo quân chính là thần lửa, rất cần để nấu nướng và cũng là người theo dơi mọi sinh hoạt của gia đ́nh, đặc biệt chú trọng vấn đề đạo đức. Phong tục cho rằng Táo quân sẽ rời nhà vào ngày 23 tháng 12 và bay lên Trời một tuần lễ để báo cáo mọi việc xảy ra trong gia đ́nh. Đây là lúc mà mọi người cố gắng làm bất cứ điều ǵ để được Táo quân báo cáo tốt cho ḿnh. V́ vậy, đêm 23, họ làm lễ cúng với bánh ngọt, mật ong để tạm biệt Táo quân. Có người cho rằng đây là một h́nh thức “hối lộ” hay “bịt miệng” Táo quân để Ông không báo cáo xấu.

– Cây nêu: Trước nhà thường dựng cây nêu, làm bằng tre, đẵn gốc, để đủ ngọn, trồng trước sân, có thể cao đến 5-10 thước. Trên đầu cây nêu thường treo các lời khấn thệ và khánh màu vàng làm bằng đất sét nung (votive papers and terra cotta tablets). Nêu dựng lên để làm dấu hiệu đất có chủ, ma quỷ không được ḍm ngó quấy nhiễu. Nêu thường trồng từ ngày 23 đến hết mồng 7 th́ hạ xuống. Theo tục lệ đạo Phật, chân cây nêu phải quay ra phía ngoài nhà để ngừa ma quỷ xâm nhập.

– Bánh chưng, bánh tét: Khi Tết đến, người miền Bắc Việt Nam gói bánh chưng và người miền Trung và Nam gói bánh tét. Bánh chưng h́nh vuông, có góc cạnh rơ ràng, màu xanh lá cây tượng trưng cho đất. Theo truyền thuyết, bánh chưng, bánh dầy có từ thời Hùng vương khi hoàng tử Lang Liêu dâng lên vua cha, được vua khen ngợi và nhường ngôi.
(Gói bánh chưng rất khó. Cần lưu ư:
a. Nếp phải là loại nếp ngon, ngâm kỹ trước khi gói.
b. Nhân bánh là thịt heo, chọn miếng thịt có đủ cả da, mỡ, nạc.
c. Đậu xanh phải đều hạt, ngâm đăi cho sạch vỏ.
d. Lá dong gói bánh phải chọn những lá có bản to, tươi xanh.
e. Không gói chặt quá, mà cũng không lỏng quá.
f. Luộc bánh khoảng trên 10 giờ, bằng củi, trấu; lửa phải cháy đều th́ bánh mới chín nhừ và ngon.
Nói chung, bánh tét tương tự như bánh chưng, điểm khác nhau là gói bằng lá chuối và gói theo h́nh trụ tṛn).

– Bàn thờ tổ tiên: Tục thờ cúng ông bà tổ tiên nhằm tạ ơn và tỏ ḷng thương mến đối với các bậc trưởng thượng đă mất. Người ta tin rằng dù chết bao đời rồi nhưng hồn người chết sẽ trở về để phù hộ cho con cháu; v́ vậy, người sống buồn vui, sinh hoạt thế nào th́ cũng không được quên người chết. Trong ư nghĩa đó, vào những ngày cuối năm giáp tết, nhiều gia đ́nh đi tảo mộ; và ở nhà th́ bàn thờ tổ tiên được lau chùi và trang hoàng bánh chưng, trái cây và hoa đào ở miền Bắc Việt Nam (người miền Trung và Nam th́ dùng bánh tét, hoa mai), vài chén trà hay nước lạnh. Trước đêm giao thừa, người chủ gia đ́nh thắp nhang để kính mời linh hồn ông bà tổ tiên trở về nhà cùng ăn Tết với gia đ́nh, gọi là lễ tiên thường. Đây là lúc mà người chủ gia đ́nh ôn lại truyền thống của ḍng họ cho con cháu. Lần lượt từ lớn đến nhỏ, mọi người trong gia đ́nh đến lạy trước bàn thờ.

– Trái cây: Quít và cam thường được trưng bày trên bàn tiếp khách. Quít biểu tượng cho may mắn và cam biểu tượng cho giàu có. Hai biểu tượng này xuất phát từ cách phát âm na ná giống nhau giữa chữ “quít và may mắn”, “cam và giàu có”. Tục lệ khi thăm viếng tân niên là phải mang một gói quít, cam và kèm thêm bao ĺ x́. Quít phải giữ nguyên cành lá để biểu tượng cho mối giao hảo luôn bền vững. Đối với những cặp vợ chồng mới lấy nhau th́ quít tượng trưng cho lời chúc đông con, nhiều cháu.

– Khay liên hợp: Nhiều gia đ́nh mua khay liên hợp, h́nh tṛn hay h́nh bát giác, chứa trái cây khô, bánh, kẹo để chào đón khách đến thăm. Tục lệ là sau khi ăn vài miếng kẹo bánh, người lớn nên bỏ bao ĺ x́ vào giữa khay. Khay chia làm tám ngăn, mỗi ngăn chứa một loại thực phẩm như sau:
a. Mứt: biểu tượng cho tăng trưởng và mạnh khỏe.
b. Hạt dưa đỏ: màu đỏ khô biểu tượng cho vui vẻ, hạnh phúc, và thành thực.
c. Hạt vải: biểu tượng cho mối quan hệ gia đ́nh chặt chẽ.
d. Bí: biểu tượng cho giàu có.
e. Dừa: biểu tượng cho đoàn tụ.
f. Đậu phụng: biểu tượng cho trường thọ.
g. Long nhăn: biểu tượng cho nhiều con trai.
h. Hạt sen: biểu tượng cho nhiều con.

– Bao ĺ x́ (c̣n gọi là hồng bao): Vào dịp tân niên, thanh thiếu niên được cho bao ĺ x́ màu đỏ có gấp tiền biểu tượng cho “may mắn và thịnh vượng” trong đó. Thông thường, ông bà, cha mẹ, cô chú sẽ ĺ x́ hồng bao cho con cháu, các người trẻ tuổi hơn họ.
Sinh nhật của tất cả mọi người: Trọn một tuần lễ thứ nhất của năm mới được dùng để thăm viếng xă giao và giải trí vui vẻ, có múa lân, biểu diễn xiệc, hát tuồng và nhiều tṛ giải trí khác. Ngày thứ 7 của tân niên được gọi là ngày sinh nhật của tất cả mọi người v́ ai cũng được tính thêm một tuổi - không phải chờ đến đúng ngày sinh nhật của ḿnh theo cách tính tuổi của Tây phương.

– Lễ rước đèn: Để kết thúc Tết Nguyên Đán vào ngày 15 tháng 1 âm lịch, người Trung quốc tổ chức lễ rước đèn. Họ viết trên lồng đèn các câu đố (đăng mê/deng mi 燈 謎) có tính chất hài hước hoặc ẩn nghĩa để cười vui.
(Vũ Lâm Cổ Sự thời Nam Tống (1127-1279) viết: “Người ta ngắt bài thơ hoặc câu thơ, dán lên lồng đèn nhằm diễu cợt con người và sự việc qua các câu ẩn nghĩa hoặc cách dùng chữ tối nghĩa. Người ta cũng dán lên lồng đèn các chuyện hài hước. Tất cả chỉ nhằm mua vui với khách qua đường”).
Mọi người ra phố rước đèn, hợp lại thành một đoàn người diễn hành, xen vào đó là múa rồng. Rồng làm bằng tre, lụa và giấy, có thể dài đến hàng chục thước. Huyền thoại: Một ngày nọ, trên thiên đ́nh, Ngọc Hoàng nổi cơn tức giận v́ một tỉnh nọ đă giết chết con ngỗng yêu quư của Ngài. Ngọc Hoàng ra lệnh hỏa thiêu toàn tỉnh. Tuy nhiên, một tiên nữ có ḷng tốt, nghe tin báo thù này, vội báo cho dân của tỉnh hay và bày kế đốt lồng đèn lên vào ngày hỏa thiêu để đánh lừa Ngọc Hoàng. Đến ngày hỏa thiêu, dân chúng nghe lời tiên nữ, đốt đèn rực sáng lên, và từ thiên đ́nh nh́n xuống, toàn tỉnh giống như đă bị thiêu rụi. Hài ḷng v́ đă báo được thù cho con ngỗng, Ngọc Hoàng dịu cơn giận, không tiếp tục hủy diệt toàn tỉnh. Từ ngày đó trở đi, cứ vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch, tục lệ rước đèn là để cầu an và vui chơi.

– Câu đối Xuân: Câu đối Xuân (xuân liên 春 聯) được bày bán khắp nơi, thường treo tại nhà và hàng quán trong hai tháng: trước và sau ngày tân niên. Câu đối Xuân là một h́nh thức đặc biệt của đối liên trong đó nghĩa của từng chữ phải đối nhau (antithetical), nội dung phải tốt đẹp và mang nhiều hy vọng. Đối liên là câu đối treo quanh năm suốt tháng, trong khi xuân liên chỉ treo trong hai tháng đón xuân mà thôi. Câu đối Xuân dùng để chúc lành, chữ “phúc” 福 khá được ưa chuộng, thường phải treo ngược để hứng phúc theo niềm tin rằng khi treo ngược (đảo 倒) th́ phúc sẽ tới (đáo 到). Người viết câu đối Xuân cần có bút pháp đẹp, viết bằng bút lông từ trên xuống dưới, từ phải qua trái hoặc viết chữ thành khung h́nh thoi, dùng mực đen viết trên giấy đỏ. Khi treo cũng vậy, câu đối thứ nhất được treo bên phải, câu đối thứ hai được treo bên trái, và nếu có thêm câu ngang th́ viết từ trái qua phải và treo ngang ngay trên đầu của hai câu đối. Khi đọc câu đối, cần đọc theo cách viết. Ngày xưa, các cụ viết chữ đẹp thường kê bút mực ra ngay ngoài đường để viết và bán cho khách qua đường.
Thi nhân Vũ Đ́nh Liên đă làm bài thơ nổi tiếng sau đây:

ÔNG ĐỒ GIÀ

mỗi năm hoa đào nở
lại thấy ông đồ già
bày mực tàu giấy đỏ
bên phố đông người qua

bao nhiêu người thuê viết
tấm tắc ngợi khen tài
hoa tay thảo những nét
như phượng múa rồng bay

nhưng mỗi năm mỗi vắng
người thuê viết nay đâu
giấy đỏ buồn không thấm
mực đọng trong nghiên sầu

ông đồ vẫn ngồi đây
qua đường không ai hay
lá vàng rơi trên giấy
ngoài trời mưa bụi bay

năm nay hoa đào nở
không thấy ông đồ xưa
những người muôn năm cũ
hồn ở đâu bây giờ

– Chơi hoa: Hoa giữ vai tṛ chủ yếu trong việc trang hoàng ngày tân niên trong niềm tin rằng không có hoa sẽ không có trái. Ba loại hoa được ưa chuộng nhất là: hoa đào, hoa thủy tiên và hoa mai. Do khí hậu Việt Nam, hoa đào là loại hoa tượng trưng cho mùa Xuân ở miền Bắc và từ miền Trung trở vào miền Nam th́ có hoa mai.
A. Hoa đào: Từ cuối mùa Đông lạnh lẽo, trên cành đào khẳng khiu, hoa đào như bộc phát và nở rộ ra; v́ vậy hoa đào tượng trưng cho can đảm và hy vọng trong năm mới. Nhiều người ưa chuộng hoa đào v́ hoa có màu hồng, sẽ mang lại may mắn. Người ta cũng tin rằng cắm cành đào trong nhà có thể cản gió độc, đuổi tà khí ra ngoài. Cần ghi chú ở đây là hoa đào được xem là loại hoa cho suốt mùa Đông chứ không hẳn dành riêng cho tân niên. Cây đào là một loại cây trồng để lấy trái và hoa, thân nhỏ, cành nhẵn, vỏ màu nâu hồng hay xám, lá thon nhỏ, trái nhiều thịt, ăn ngon, hoa màu hồng, mọc đơn độc. Có bốn loại đào:
1. Đào bích có hoa màu hồng thẫm, sai hoa, là loại đào dùng để lấy hoa chơi ngày tết.
2. Đào phai có hoa màu hồng nhạt, sai hoa nhưng hay trồng để lấy trái.
3. Đào bạch có ít hoa, màu trắng, khá khó trồng.
4. Đào thất thốn có hoa nhỏ và nhiều màu, thân cây nhỏ, thường được dùng để uốn thành cây cảnh.
Nói đến hoa đào không thể không nhắc đến một điển tích nổi tiếng trong làng thơ. Đó là bài thơ “Đề thành đô nam trang” (Viết về căn nhà phía Nam của Thành Đô) - c̣n có tên là “Đề tích sở kiến xứ” (Viết về chốn xưa đă thấy) [trích trong “Thành Ngữ Cố Sự Đệ Nhất Tập”, tác giả Bành Minh Huy, nhà xuất bản Hải Hoa Văn Khố, Trung Hoa Dân Quốc Thất Thập Bát Niên Cửu Nguyệt Đài Tam Bản].
Truyện rằng: Sau một lúc rong chơi vào dịp lễ Thanh Minh, Thôi Hộ, một thi nhân nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), khát nước, ghé đến Đào hoa trang gơ cửa xin nước uống. Nh́n thấy người con gái ra mở cửa, Thôi Hộ ngây ngất trước nét đẹp “hoa nhường, nguyệt thẹn” của người con gái. Nàng cảm nhận được và nhỏ nhẹ hỏi, “Ông cần ǵ?”. Trong cơn mê đắm, Thôi Hộ ấp úng “Tôi… tôi muốn xin tách nước”. Nàng đứng thập tḥ trong cửa đưa nước cho, c̣n chàng th́ đưa tay nhận. Người nhận, kẻ cho đă vô t́nh chạm tay nhau. Luân lư thời đó là “nam nữ thụ thụ bất thân” nên nàng lấy làm e thẹn, má đỏ hồng lên, quyện lẫn với màu hồng của hoa đào. Năm sau, v́ thương nhớ người xưa quá sâu đậm, Thôi Hộ lại ghé đến Đào hoa trang. Cảnh vẫn như cũ, hoa đào vẫn rực rỡ phất phơ theo gió như mỉm cười chào đón khách đến thăm. Tuy nhiên, người xưa đă vắng bóng, không biết đi về phương nào! Thôi Hộ không nén được cảm xúc, bèn viết bài thơ tứ tuyệt ngay trên cửa.

Nguyên tác Hán (Hán Việt):
ĐỀ THÀNH ĐÔ NAM TRANG (ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ)
khứ niên kim nhật thử môn trung
nhân diện đào hoa tương ánh hồng
nhân diện bất tri hà xứ khứ
đào hoa y cựu tiếu xuân phong

(Thôi Hộ)

Dịch nghĩa:
Viết về căn nhà phía nam của Thành Đô (Viết về chỗ đă thấy xưa kia)
năm ngoái ngày nay tại khung cửa này,
sắc hồng của mặt người (của cô gái) và hoa đào phản chiếu qua lại (tương) với nhau
không biết mặt người (của cô gái) nay đă đi về phương nào
hoa đào vẫn y như cũ (không thay đổi) cười cợt gió xuân

Dịch thơ:
ngày ấy năm nao tại cửa này
hồng nhan lấp lánh ánh hoa lay
người xưa lưu lạc phương nào nhỉ
cảnh cũ hoa đào cợt gió bay

(Phạm Văn Bân)

B. Hoa thủy tiên là loại hoa đẹp từ rễ đến hoa. Cây thủy tiên trồng làm cảnh, có củ như hành tây, lá giống lá tỏi, dài đến 40 cm, hoa có 6 cánh. Giống thủy tiên có cánh màu trắng gọi là ngọc chảu ngân đài và cánh màu vàng gọi là ngọc chảu kim đài. Hương thơm của hoa thủy tiên tỏa ra rất quyến rũ, nhất là về đêm. Hoa thủy tiên nở vào mùa Xuân. Người ta phải cắt tỉa, rửa, hăm hoặc kích thích để sao cho hoa nở đúng vào đêm giao thừa; đó là dấu hiệu sẽ phát tài trong suốt năm. Nếu hoa nở vào ngày mồng 1 cũng rất tốt.
Để có hoa thủy tiên chơi vào ngày tết, người ta phải trồng trước hai năm để lấy củ. Việc trồng củ hoa rất khó, cần phải thành thạo chăm bón để có củ vừa ư, không khiếm khuyết và sao cho có đủ 5 củ đều đặn. Có hai loại thủy tiên: thủy tiên đơn và thủy tiên kép. Thủy tiên đơn để trong b́nh thủy tinh, đổ nước mưa tinh khiết vào để chiêm ngưỡng từ rễ đến hoa. Đây là loại hoa quư, vừa trắng vừa đẹp lại vừa thơm.
C. Hoa Mai: Ngày Tết, hoa mai vàng nở rộ, nhà nhà đều chưng mai để đón mừng năm mới. Có lẽ do cách phát âm không phân biệt giữa “mai” và “may mắn” của người miền Nam nên hoa mai được tin là loại hoa mang lại may mắn. Điểm đáng lưu ư là phải kỵ hoa héo hoặc không nở trong ba ngày Tết cho nên phải biết kỹ thuật thúc ép hoa mai nở rộ đúng vào ngày mồng 1 Tết. Một chậu mai vàng đầy hoa rực rỡ th́ không c̣n hoa nào đẹp bằng trong không khí vui Xuân. Có ba loại mai chính: hoàng mai, mai chiếu thủy và mai tứ quư.
1. Hoàng mai vốn là loại cây rừng, có lá to, chỉ đẹp trong vài ngày đầu năm, sau đó th́ cành lá khá rậm rạp nên không c̣n đẹp nữa. Cành của cây hoàng mai mềm mại hơn cành đào, hoa mọc thành từng chùm, có mùi thơm, dáng hoa e ấp, kín đáo.
2. Mai chiếu thủy là loại mai mọc ở vùng śnh lầy, lá nhỏ, hoa trắng và có mùi thơm nhẹ. Do đặc tính dễ trồng, mau lớn nên mai chiếu thủy rất phổ biến nên mặc dù đẹp nhưng thường bị xem là loại hoa b́nh dân.
3. Mai tứ quư là loại mai nở hoa trong cả bốn mùa; c̣n loại nhị độ mai chỉ nở hai lần trong năm.
Nói chung, mai có thể trồng ngoài vườn hay trong chậu, chọn chỗ có ánh sáng và đất ẩm.

– Kiêng kỵ: Ngày nay, mặc dù người ta không c̣n tin các kiêng kỵ nữa nhưng một số vẫn giữ như một thú vui trong cuộc sống, coi các tục kiêng kỵ như một xác định về nguồn gốc của ḿnh (identity). Người ta tin rằng những ǵ xảy ra trong những ngày Tết sẽ xảy ra suốt năm, v́ thế nên kiêng một số việc sau đây:
1. Cuối năm, nợ phải trả hết.
2. Không cho mượn nợ vào ngày đầu năm, sợ phải cho mượn suốt năm.
3. Kiêng nói láo, lên giọng, không đập vỡ bất cứ vật ǵ.
4. Kiêng dùng các vật dụng sắc bén như: dao, kéo v́ sợ cắt mất cái “hên” của năm mới.
5. Kiêng nói tục, dùng chữ thô bạo. Người Trung quốc rất kiêng nói con số 4 (tứ) v́ âm giống như chết (tử).
6. Cữ nói đến ma quỷ, chết chóc.
7. Không nói chuyện quá khứ, chỉ nói chuyện tương lai.
8. Pháo được đốt để đuổi ma quỷ, tiễn năm cũ, đón năm mới (tống cựu, nghinh tân).
9. Vào đêm giao thừa, mọi cửa lớn, cửa sổ đều mở toang ra để năm cũ ra đi.
10. Nếu khóc trong ngày tân niên, sẽ khóc suốt năm; v́ vậy, không được rầy la, đánh đập con nít dù chúng quấy phá.
11. Khi ra khỏi nhà, phải coi và lựa hướng tốt, giờ tốt.
12. Không chào hỏi trong pḥng ngủ; v́ vậy, cho dù bịnh đến đâu, người bịnh vẫn phải ra pḥng khách.

Kết luận:
Đa số phong tục của ta có gốc từ Trung quốc. Trong bài tựa cuốn sách Việt Nam phong tục, nhà văn Phan Kế Bính (1875-1923) viết: “Việt Nam ta kể từ lúc có nước tới giờ th́ đă ngoài bốn ngh́n năm. Song về đời Hồng Bàng th́ c̣n là một nước tối cổ, tục khi đó hẳn cũng như Mường, Mán bây giờ. Kế đến hồi Tàu sang cai trị th́ những văn minh của Tàu mới dần dần mà truyền bá sang nước ta. Bấy giờ ta mới có học hành, có giáo hóa, th́ phong tục của ta cũng mở mang thêm ra ít nhiều. Từ đời Ngô Quyền gây nền độc lập, rồi kế đến Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu Lê, cho chí Nguyễn triều ta, nước ta đă thành nước tự chủ mà trong cách chính trị, cách giáo dục, điều ǵ cũng là noi theo của Tàu, cho nên phong tục ta bây giờ phần nhiều do ở Tàu mà ra cả. Nay nhờ có nước Pháp bảo hộ, đem những thói văn minh Âu Tây mà rải rác sang nước ta. Ta ngoảnh lại mà xem những tục cũ th́ tỏ ra nhiều điều ngày trước là hay mà bây giờ hóa ra hủ bại lắm rồi. Đó cũng không phải là tổ tiên ta khi trước có vụng dại ǵ, chỉ là thời thế mỗi lúc một khác, mà mỗi lần biến cải th́ cái tŕnh độ khai hóa lại tấn tới thêm lên một từng. Ấy cũng là cái lẽ tự nhiên của tạo hóa như thế”.
Nguồn gốc của một dân tộc được xác định bởi tục lệ. Người Âu Tây ăn mừng năm mới ở khách sạn, bar, club, đội nón giấy đủ màu, thổi c̣i, rắc confetti đầy đường, uống rượu và nhảy đầm thâu đêm suốt sáng… Người Việt Nam trước năm 1975 th́ trái lại: mọi người luôn luôn t́m cách trở về nhà để đón giao thừa, tụ hợp gia đ́nh, thờ cúng tổ tiên, v.v… Riêng tôi, cứ mỗi đêm giao thừa là cứ theo chân Mẹ, quanh quẩn bên nồi nấu bánh tét để được ăn đ̣n bánh mới ra ḷ. Và năm nào cũng vậy, Mẹ tôi luôn luôn cắt bỏ hai đầu bánh, chỉ cho ăn đoạn giữa v́ sợ ăn vào sẽ hóa ngu. Măi đến nay, mặc dù không tin và cũng không sợ ngu nhưng tôi không bao giờ ăn hai đầu của bất cứ thực phẩm nào như một kỷ niệm đối với người Mẹ đă cưu mang và dạy dỗ tôi từng chút một!
Sau năm 1975, một số người Việt ở tứ tán khắp nơi trên thế giới; các tục lệ ngày Tết đă bắt đầu phai nhạt dần. Thậm chí có người vẫn sinh hoạt “một ngày như mọi ngày”. Họ đă Tây hóa, Mỹ hóa, Tàu hóa, Nhật hóa, hoặc… Châu Phi hóa rồi. Không có ǵ đáng nói về hiện tượng “ized” này. Tuy nhiên, cho dù sinh đẻ và trưởng thành ngay tại ngoại quốc th́ người Việt da vàng, mũi tẹt vẫn không sao hội nhập thực sự vào cộng đồng ngoại quốc từ nhăn quan của người ngoại quốc. Cái cốt Trời sinh là như vậy, không cải biến được. Theo thiển kiến, đấy chính là định nghĩa đúng nhất của chữ identity.

Mùa Xuân Giáp Thân
(Riêng tặng các bạn Huyên, Thanh Yến, Toàn và Minh Hương)
PHẠM VĂN BÂN. 范 文 彬


Cước chú:
(1) Đời Hán Vũ đế, năm 104 trước Tây lịch, người Trung quốc có lịch Thái Sơ chia một năm thành bốn mùa, gồm có:
– Ngày đầu mỗi tháng Âm lịch có 12 tiết khí: lập xuân, kinh trập, thanh minh, lập hạ, mang chủng, tiểu thử, lập thu, bạch lộ, hàn lộ, lập đông, đại tuyết, tiểu hàn.
– Ngày giữa mỗi tháng Âm lịch có 12 tiết trung khí: vũ thủy, xuân phân, cốc vũ, hạ chí, tiểu măn, đại thử, xử thử, thu phân, sương giáng, tiểu tuyết, đông chí và đại hàn.
(2) Mặt trăng là thuộc-tinh (satellite) duy nhất của trái đất, bắt đầu mọc ở hướng đông và lặn ở hướng tây. Từ trái đất, người ta thấy mặt trăng là vật sáng nhất trong màn đêm dày đặc của vũ trụ; thực ra, mặt trăng không tự phát sáng mà chỉ phản ảnh ánh sáng nhận được từ mặt trời. Mặt trăng quay theo một trục tưởng tượng có chu kỳ 29.5 ngày. Đây là thời gian để mặt trăng hoàn tất một ṿng quay quanh mặt trời, gọi là “a lunar day”. Cách nay khoảng 4,000 năm, lịch pháp của người Trung quốc bằng cách nào đó đă nhận biết chính xác chu kỳ này nên gọi một tháng âm lịch là một nguyệt
月. Họ cũng gọi một ngày là một nhật 日 v́ trái đất quay quanh mặt trời chỉ mất 24 giờ là hoàn tất một ṿng quay.
V́ mặt trăng nằm trong quỹ đạo của trái đất nên người ta có thể thấy mặt trăng dưới nhiều h́nh dạng khác nhau. Dường như mặt trăng thay đổi từ h́nh lưỡi liềm đến h́nh tṛn và sau đó lại biến ngược lại thành h́nh lưỡi liềm. Thực ra, mặt trăng không thay đổi h́nh dạng; chỉ v́ con người ở trái đất thấy các dạng khác nhau của mặt trăng qua hiện tượng phản chiếu ánh sáng mặt trời của mặt trăng mà thôi. Một chu kỳ mặt trăng gồm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng bảy ngày: trăng mới mọc hay trăng non (new moon), phần tư thứ nhất (first quarter), trăng tṛn hay c̣n gọi là trăng rằm (full moon) và phần tư cuối (last quarter). Sau đêm đầu tiên của trăng mới, một h́nh lưỡi liềm rất mỏng xuất hiện mà hai đầu quay về hướng đông. Mỗi đêm sau đó, trăng đầy dần, hai đầu lưỡi liềm dần dần quay về hướng tây.
(3) Từ thời xa xưa, áp dụng nguyên tắc ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa và thổ), Trung quốc làm lịch theo sự kết hợp 10 thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm và quư) và 12 địa chi (tư, sửu, dần, mẹo, th́n, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất và hợi). Số lẻ thuộc dương: tư, dần, th́n, ngọ, thân, và tuất. Số chẵn thuộc âm: sửu, mẹo, tỵ, mùi, dậu và hợi. Từ đó suy ra các tuổi hạp và không hạp như sau:
– Hạp: Tư và Sửu, Th́n và Dậu, Tỵ và Thân, Dần và Hợi, Mẹo và Tuất.
– Không hạp: Tư và Ngọ, Sửu và Mùi, Dần và Thân, Mẹo và Dậu, Th́n và Tuất, Tỵ và Hợi.
(Lưu ư: khác nhau giữa tàu và ta: Tàu dùng Thố (con thỏ) và Ta dùng Mẹo (con mèo), có lẽ v́ con thỏ phổ biến ở Tàu và con mèo phổ biến ở Ta).
Họ cũng chia một ngày ra 12 khoảng cách bằng nhau. Mỗi khoảng cách v́ vậy bằng 2 giờ (double-hour: giờ kép), thay v́ 24 giờ như dương lịch. Giờ kép thứ nhất bắt đầu từ 11 giờ đêm trước và lấn sang một giờ đầu tiên của ngày hôm sau. Giờ kép thứ hai từ 1-2 a.m., giờ kép thứ ba từ 3-4 a.m., v.v… Giờ kép không đánh số từ 1 đến 12 mà gọi theo tên của 12 địa chi, gồm có: tư, sửu, dần, mẹo, th́n, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất và hợi. Trong chu kỳ 12 năm, họ dùng 12 con vật để tượng trưng: thử (chuột), ngưu (trâu), hổ (cọp), thố (thỏ), long (rồng) , xà (rắn), mă (ngựa), dương (dê), hầu (khỉ), kê (gà), cẩu (chó), và trư (heo). Huyền thoại:
A. 12 con vật nêu trên tranh căi để dành làm con vật đứng đầu. Trời được mời phân giải, bèn đặt ra cuộc thi bơi: con nào bơi tói bờ trước nhất th́ được đứng đầu chu kỳ 12 năm. Cả 12 con cùng nhau sắp hàng và nhảy xuống sông để thi. Trâu là con bơi nhanh nhất nhưng không biết Chuột đă nhảy lên lưng nó; khi gần tới bờ sông bên kia th́ Chuột nhảy phóng lên trước và thắng cuộc. Heo th́ rất lười biếng, bơi tới sau cùng.
B. Trước khi mất, Đức Phật triệu tập tất cả súc vật nhưng chỉ có 12 con vật nêu trên đến để từ giă. Để tưởng thưởng, Đức Phật lấy tên mỗi con vật để đặt tên cho 12 năm căn cứ vào thứ tự đến của từng con. Người Trung quốc tin rằng đặc điểm của từng con vật biểu tượng cho từng năm có ảnh hưởng sâu đậm đến những ai sinh ra trong năm đó.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved