Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Nguyễn Xuân Hoàng, chỉ riêng cái tên cũng đă đủ giới thiệu về “bề dày” của anh, như là một nhà văn, nhà báo. Riêng đối với Voyages Saigon, anh, và cả chị Nguyễn Xuân Hoàng, c̣n là t́nh thân lâu năm. Tuy không gặp anh nhiều, nhưng tôi rất mến anh qua lối nói chuyện rất mạch lạc và thảng hoạc dí dỏm; Anh nói giọng miền Nam pha miền Trung (đâu đó từ Nha Trang đổ ra, Qui Nhơn đổ vào), và dùng chữ đệm rất “Bắc kỳ”, những thế, nhé, nhỉ... Mới tiếp xúc người ta có thể nghĩ là Nguyễn Xuân Hoàng điệu, cũng có thể tưởng là anh kiêu, nhưng gần anh hơn th́ hiểu anh không phải như vậy; Anh là người tử tế, sống và suy nghĩ tử tế, đáng để cho lớp “hậu sanh” như tôi kính phục.
Truyện ngắn “Nhà Từ Đường” là câu chuyện kể theo lối tâm sự, có thể là chuyện thật, có thể là hư cấu, hoặc là cả hai. Nhưng dù thật hay hư cấu, nó vẫn thấm thía làm sao về quê hương Việt Nam, trong chiến tranh và sau chiến tranh. Đọc truyện thấy buồn quá, nh́n thấy cái cảnh đời trong truyện giống như bao cảnh đời Việt Nam khác trong chiến tranh, rơ mồn một như h́nh ảnh của miền quê và ngôi nhà Từ Đường mà nhân vật “tôi” trong truyện về thăm lại sau 15 năm xa cách. Bản thân tôi, do lứa tuổi và hoàn cảnh riêng, sống rất ít với cuộc chiến tranh trước 1975 mà đọc truyện c̣n thấy buồn thấm thía, huống ǵ những người đă thật sự sống với cuộc chiến tranh ấy.
Năm hết Tết đến, là dịp mà người Việt chúng ta thường hay nghĩ đến những người thân, đến hương khói và mồ mả ông bà, đến quê hương... SALADE EsPRESSO hân hạnh giới thiệu với quư độc giả truyện ngắn “Nhà Từ Đường” của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.
Trần Chính.
(California, Jan 10, 2004)


NHÀ TỪ ĐƯỜNG

Tôi trở về Nhà Từ Đường sau 15 năm đi xa. Thật ra con số 15 năm là không đúng. Nó chỉ đúng tính theo ngày tôi bỏ nước ra đi, chứ không đúng tính đến ngày tôi trở lại Nhà. Hồi c̣n ở trong nước chẳng mấy khi tôi lên ngôi Nhà Chung này. Tôi thấy ḿnh lúc nào cũng bị cái hiện tại lôi cuốn. Học hành, thi cử, bạn bè, nghề nghiệp, chiến tranh, t́nh yêu... Hết Đà Lạt rồi Sài G̣n. Giữa hai thành phố ấy c̣n có Huế, Cần Thơ, Nha Trang, Mỹ Tho... Rạch Giá, U Minh, Long An, Biên Ḥa... Trong cái mớ chằng chịt về con người và địa danh ấy, tôi thấy ḿnh như một kẻ bị quấn cuốn giữa những chiếc ṿi của con bạch tuộc.
A, anh hỏi tôi chuyện chiến tranh hả? Chiến tranh? Ừ, thời của tôi ai mà chẳng bị chiến tranh chi phối. Tuổi tôi chỉ là tuổi bản lề, thời của ông anh tôi là một cuộc chiến, và thời kề cận tôi là tiếp tục một cuộc chiến sắp tàn. Tuổi trẻ tôi cũng thở cái không khí sặc sụa mùi tử khí. May sao, thế hệ kế đó vừa mặc bộ treillis vào người th́ chiến tranh cũng vừa kịp kết thúc. Anh nói anh không biết chiến tranh hả? Năm nay anh bao nhiêu rồi? Mới hai mươi bảy à? Phải. Anh nói anh mới hai mươi bảy, có nghĩa là anh quá trẻ để biết cuộc chiến Việt Nam. Năm bằng tuổi anh, mặc dù không ra mặt trận như các bạn cùng lứa, tôi cũng đă biết thế nào là tù tội rồi. Viết một truyện ngắn cho báo Vấn Đề của ông Vũ Khắc Khoan, tôi bị ra ṭa v́ đă ghi lại lời trong ca khúc Bà Mẹ Gio Linh của ông Phạm Duy. Anh nói lúc mẹ bế anh xuống tàu ở Bến Chương Dương, anh chưa đầy tháng tuổi phải không? Ừ. Tuổi ấy th́ biết ǵ? Nhưng anh có biết là anh đă chào đời trong những giây phút của một cuộc chiến sắp tàn – chứ vẫn chưa tàn không? Anh có biết là mẹ anh bế anh chạy trong khi ven đô súng c̣n nổ và cả thành phố Sài G̣n ch́m trong cơn hỗn loạn không? C̣n bây giờ? Trên cái đất nước tưởng là yên ổn này, hải đảo của ḥa b́nh, thiên đàng của hoan lạc, có thật là chúng ta đang đứng bên ngoài cuộc chiến không? Sau cái vụ 911, nước Mỹ có thật sự b́nh yên không? C̣n t́nh h́nh Trung Đông hiện nay, vùng đất ngày nào cũng khét nghẹt thuốc súng, ngày nào cũng có khủng bố và người chết. Và Iraq? Và bán đảo Triều Tiên? Và trước đó không lâu là A Phú Hăn. Liệu nước Mỹ có tấn công Iraq không? Liệu nước Mỹ có c̣n bị khủng bố chơi những đ̣n nặng như vụ Tháp-Đôi 911 ở New York nữa hay không? Và liệu rồi đây con cái của anh có phải ra trận không? Chiến tranh là ngu dốt. Nhưng liệu khi người ta muốn ḥa b́nh th́ có ḥa b́nh được không?
Có lẽ, không một người Việt Nam nào không có kinh nghiệm về chiến tranh. Người Sài G̣n hay người Hà Nội có chiến tranh theo cách riêng của họ. Những cuộc xuống đường. Những trái hỏa châu chiếu sáng khu ngoại ô hằng đêm. Lựu đạn cay trên đường phố. Ḿn nổ ở một quán ăn. Bom phá sập một cao ốc. Và Hà Nội những ngày hoảng hốt v́ bom Mỹ. Những lo sợ của người dân trước cuộc chiến leo thang. Đường ṃn Hồ Chí Minh. Đường Trường Sơn “ào ào lá đổ”... “Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại?” Hoặc “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Anh trả lời mai mốt anh về!... Anh trở về bằng chiếc băng-ca trên trực thăng sơn màu tang trắng...” Thật ra chưa cần nhích chân ra khỏi ṿng đai thành phố người ta cũng đă biết được thế nào là khói lửa và súng đạn.
Mới năm tuổi, tôi đă biết thế nào là chiến tranh. Những người lính Nhật đă trói Cha tôi bắt ông đi đâu mất. Má tôi bồng em tôi đi t́m chồng. Anh tôi đă vào rừng đi kháng chiến. Tôi đi suốt từ căn nhà này đến căn nhà khác gơ cửa t́m mẹ và xin ăn. Đôi khi người ta cho ăn (đôi khi người ta đuổi đi)... Mỗi ngày tôi đi xa vào các làng quê. Tôi có khóc nhiều không lúc đó? Chiến tranh chỉ có chết chóc và đói khổ. Người ta đói khổ đă nhiều, người ta không muốn gánh thêm một miệng ăn và nỗi khổ nào nữa, dù rất nhỏ. Hăy tưởng tượng một đứa bé 5 tuổi đi bơ vơ trong một vùng khô cằn, nhà cửa thưa thớt, và chiến tranh đi qua những xác người... Hăy tưởng tượng năm tôi vừa 5 tuổi bụng luôn luôn đói và không một người thân. Hăy tưởng tượng...
Trong một cuộc hành quân của lính Pháp, một người lính Lê-dương già nhặt được tôi ở một mép rừng mang về nuôi. Đó là thời gian tôi có gần với súng đạn và chết chóc hơn, bởi v́ cha nuôi tôi – mà tôi gọi là papa Chopin – là một sĩ quan phụ trách vũ khí và cả bataillon luôn luôn di động. Cho đến ngày ông chết trong một trận phục kích, tôi lại bơ vơ. May sao, một người thông ngôn giúp tôi t́m lại được gia đ́nh. Một cuộc trùng phùng đầy nước mắt. Má tôi ôm tôi khóc rấm rức. “Má tưởng không bao giờ gặp lại con”. Mái tóc bà có những sợi bạc. Hai g̣ má hóp. Hai đứa em gái tôi ngồi hai bên cũng khóc. Sao hồi đó tôi không khóc, tôi nhớ như vậy! Đôi mắt má tôi luôn nheo lại, như lúc nào cũng cười, nhưng là một nụ cười buồn bă, và cái dáng đi của má sao mà tất bật, vất vả. Quê má tôi xa hơn quê cha tôi nhiều. Đó là khoảng cách của hai thành phố. Hai ngọn đèo. Hai dân tộc. Tại sao hai dân tộc? D́ tôi – bà chị của má tôi, như những người Hoa trong vùng cắt tóc bôm-bê – nói tiếng Hoa và ở trong ngôi nhà gạch rộng thuộc loại dư ăn dư để trong cái thị trấn heo hút nghèo nàn. Anh Bảy, con d́ tôi, cao lớn khỏe mạnh, tóc quăn, có một chiếc răng vàng, làm chủ một tiệm chạp phô, nói tiếng Việt bằng cái giọng lơ lớ. Thỉnh thoảng, tôi nghe anh nói tiếng Hoa với má tôi, thứ tiếng mà bà không bao giờ nói với các con một lần nào.
Tôi trở về gặp mẹ, nhưng không gặp Cha. Cha tôi ở đâu? Bà nói suốt mấy năm nay, ông đă đi t́m tôi và giờ đây, ông đang ở trong một căn cḥi dưới chân Ḥn Lớn, một ngọn núi khá cao, cách xa nhà cả một ngày đường. Anh tôi thời đó như những thanh niên cùng lứa tuổi đă vào chiến khu chống Pháp. Và măi đến khi ông Ngô Đ́nh Diệm lên làm Tổng thống cha tôi mới xuống đồng bằng. Và anh tôi, một buổi sáng cả nhà hay tin anh vừa bị bắt đi Thủ Đức. Nhiều năm sau tôi rời Nha Trang vào Sài G̣n học tiếp... Chiến tranh có lúc như lắng xuống, nhưng có lúc ồ ạt... Chiến tranh là không khí của thành phố, chiến trận là không khí của thôn quê. Bạn tôi, nhiều đứa hôm trước c̣n ngồi với tôi nói nói cười cười, tháng sau, tuần sau, hôm sau đă không c̣n thấy mặt nữa, không bao giờ trở về nữa.
Trở về Việt Nam sau 15 năm, tôi quyết định trở lại nhà Từ Đường. Tại sao à? Bởi v́ giờ đây, mộ cha tôi, và mộ anh tôi đă dời về đó. Hai ngôi mộ song đôi, nằm giữa một vườn cây xanh lá. Trong một buổi sáng tháng Tám nắng vừa lên, tôi ngồi bên mộ Cha và Anh, nghe tiếng chim hót trong bụi cây, tưởng như thấy lại khuôn mặt khắc khổ của Cha, cái vẻ lặng lẽ lầm ĺ suốt ngày không nói một lời của ông. Và khi ông phải nói, tôi nghe rơ cái âm thanh sấm sét mang theo hơi rượu nồng nặc từ miệng ông phả ra trong cơn bùng nổ của một hỏa diệm sơn. Tôi cũng thấy lại anh tôi, người đàn ông to lớn, khỏe mạnh, cười to, ăn mạnh, nói lớn, lúc nào cũng giam chật trong bộ quần áo trận. Một người đàn ông khỏe mạnh và quyết liệt, nhưng cũng t́nh cảm và lăng mạn biết là chừng nào. Anh yêu những người lính của anh như anh yêu gia đ́nh ḿnh. Và anh yêu những người nghèo khổ khốn cùng như anh yêu chính bản thân anh. Tôi chưa thấy ai có một trái tim phóng khoáng và quảng đại như anh. Ba đứa em của anh, không một đứa nào có được một chút ḷng quảng đại và tính lăng mạn của anh.
Mộ Anh nằm cạnh mộ Cha, dưới bóng mát của những tàng cây chôm chôm. Đứa con trai lớn của anh từ trại tù cải tạo về, được nhà nước báo cho biết khu nghĩa trang trên lưng một ngọn đồi gần đèo Rù Ŕ phải giải tỏa, đă mang hài cốt ba cháu về chôn cạnh mộ ông nội trong vườn Nhà Từ Đường. C̣n hài cốt má, vốn được chôn cất cạnh bên đứa con trai, sau cùng theo ư nguyện của bà phải đưa về Ninh Ḥa để nằm bên cạnh những người chị em của bà. Khi sống cha và má tôi là hai người khắc khẩu, và lúc ra đi, mỗi người trở lại với nơi chốn riêng của ḿnh.
Sau 15 năm trở lại ngôi Nhà Từ Đường, thăm lại mộ Cha và mộ Anh, tôi mới nh́n ra cái ngôi nhà đầy ánh nắng, lúc nào cũng ấm tiếng cười kia nay sao mà lạnh lẽo! Chiến tranh đâu c̣n nữa. Nhưng cái ǵ làm cho ngôi nhà kia âm u, khu vườn cây ăn trái kia trở nên buồn bă?
Ngôi Nhà Từ Đường ấy, mặc dù vẫn c̣n cái sân tráng xi-măng nằm dưới dàn cây thanh long, và vườn sau nhà là những cây măng cầu Xiêm, cam và bưởi, tôi nh́n thấy nó đang xuống cấp. Cái vẻ lạnh lùng và ảm đạm của ngôi nhà quạnh hiu không c̣n chút sức sống như thân thể của một người già máu đă rút dần ra khỏi thân xác, chờ ngày chia tay...
Ông chú bà thiếm tôi cũng đă ra đi. Những người con của chú thiếm cũng đă người ở Úc, người ở Pháp. Ngôi nhà bây giờ trao lại cho hai vợ chồng người cháu gái, người phụ nữ trẻ đứng trước mặt tôi phải nhắc măi tôi mới nhớ ra ngày xưa chị chính là con bé tóc ngắn, mặt mũi trắng trẻo xinh đẹp đứng thập tḥ bên chại nước mưa hái cho tôi những chùm chôm chôm.
Chiến tranh Việt Nam đă qua rồi. (Qua thật chưa?) Cha tôi nếu c̣n sống, chắc thuốc lá và rượu cũng sẽ giết ông. Và anh tôi, một người cương trực, ghét sự ác, yêu cái thiện, người tranh đấu không hề mỏi mệt cho những bất công xă hội. Và một con người như thế vốn là một sinh vật hiếm hoi trong thế giới loài người.
Này anh bạn, anh có bao giờ nh́n thấy cảnh một chiếc cối xay nước to tưới cho cả một cánh đồng chưa? Chưa bao giờ thấy à? Nếu anh có dịp xem phim Chúng Tôi Muốn Sống anh sẽ thấy cối xay nước đó. Nó nằm trên thửa ruộng thuộc Nhà Từ Đường của ḍng họ nhà tôi.
Từ thành phố Nha Trang, muốn lên Nhà Từ Đường của họ nhà tôi nếu đi xe đ̣, cũng phải mất cả tiếng đồng hồ. Xe bỏ anh ở một góc đường đầy ổ gà và bụi. Anh phải xuống xe đi bộ một quăng nữa. Băng qua những bờ ruộng và sau cùng là một con đường ṃn nhỏ giữa những hàng rào, những bụi cây. Tốt nhất là anh nên đi xe gắn máy hay xe đạp.
Hồi trước, người trông coi Nhà Từ Đường là chú thiếm tôi. Ông là một người đàn ông nho nhă, khuôn mặt trắng hồng, môi đỏ, dáng dấp nhẹ nhàng như một thầy đồ; c̣n bà thiếm tôi là một phụ nữ cao lớn, da ngâm đen, khuôn mặt có những nét thô cứng. Bà có vẻ khó tính, nhưng là một phụ nữ tốt bụng và quán xuyến. Tôi có cảm tưởng tất cả chuyện trong nhà ngoài ngơ đều do một bàn tay bà. Ngôi Nhà Từ Đường ba gian. Những cây cột to lên nước đen bóng. Mái ngói đỏ, cửa lớn rộng, chạm trổ những hoa văn kỳ lạ. Có lần chú bảo tôi, lẽ ra cha mày phải là người trông coi Nhà Từ Đường, nhưng ổng đă không làm công việc đó. Chú không nói cha tôi bỏ làng ra đi từ hồi nào? Ông giang hồ bốn phương tám hướng, trong làng từ lâu không ai nghe tên ông. Ông quen má tôi và cưới bà trong trường hợp nào, và tại sao ông không đưa bà về quê, không ai trong nhà biết chuyện đó. Tôi tưởng tượng ra cảnh một người đàn ông giang hồ, một hôm lạc vào một thị trấn nhỏ, gặp cô thiếu nữ xinh đẹp con một nhà buôn người Hoa, anh chàng phải ḷng nàng dừng chân ở lại. Nhà gái chắc là không ưng chàng rể v́ nó là người Ố-Nàm, và đặc biệt nó không có vẻ ǵ là con nhà làm ăn buôn bán. Chắc má tôi phải yêu lắm sự ngang tàng của ông mới chịu lấy ông. Và bên ngoại tôi chắc cũng không cho của hồi môn. Chúng mày yêu nhau th́ ráng mà sống với nhau như thế cho biết đá biết vàng. Như thế cha tôi không đưa má tôi về Nhà Từ Đường. Hai người quyết sống với nhau như thế – bất cần mọi thứ trên đời – coi có chết con giáp nào không. Không ai nói cha tôi là con một ông Kinh lược của triều đ́nh. Cũng không ai nói với tôi rằng má tôi là con một chức sắc ngoại giao người Bắc Kinh làm việc ở Luân Đôn, v́ đâu lưu lạc đến một vùng quê nghèo khổ nhất miền Trung Việt Nam làm ăn buôn bán? Phải chăng đó chỉ là một câu chuyện hoang tưởng do cái đầu óc không được khỏe mạnh của tôi bịa đặt ra.
Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi trở lại thăm nhà, thăm lại khu vườn nơi chôn cất cha tôi và anh tôi. Hai ngôi mộ nằm sát nhau, được xây cất rất sơ sài. Vôi hồ gạch đă vữa nát. Đất giữa mộ đă ch́m xuống, lá cây rơi ngập, úa nhăo nhớp nhúa không ai dọn dẹp. Những ḍng chữ trên mộ bia màu đỏ kia đă phai. Tôi đọc được ngày sanh ngày mất của Cha và Anh. Tôi tưởng tượng mỗi ngày Cha và Anh tṛ chuyện với nhau như hai người bạn. Có lẽ Anh sẽ là người được Cha tâm sự nhiều nhất. Anh là người biết rơ mối t́nh của Cha, biết rơ người phụ nữ xinh đẹp gốc Hoa kia v́ sao chịu lấy một anh chàng Việt Nam không một đồng xu dính túi, đi lang thang như một tên du thủ du thực, không ngày mai. Và tôi tưởng tượng một ngày nào đó khi tôi ra đi, liệu tôi có được một chỗ bên cạnh cha và anh tôi không? Thật ra tôi có được cái quyền ấy không? Khi người ta không làm được điều chi tốt đẹp trong cuộc sống, người ta không thể đ̣i cuộc sống một điều chi hết. Khi người ta không nợ nần nhau, người ta không phải trả.
Mười lăm năm sau khi ra khỏi Việt Nam, tôi đă trở về thăm lại ngôi nhà xưa, ngôi nhà mà lẽ ra cha tôi phải ngồi đó thay mặt cho cả một ḍng họ, nhưng ông đă bỏ đi giang hồ khi ông vừa mới lớn. Ông đă xuống tàu viễn dương đi khắp năm châu bốn bể như một thủy thủ, đă sống ở Pháp những năm của tuổi trẻ, đă có con với một người phụ nữ bản xứ, đă đi lính Pháp, đă bị Nhật bắt, đă vào rừng sống như một Lỗ B́nh Sơn thời chiến, đă yêu một phụ nữ Trung Hoa, đă đẻ ra một bầy con, và sau cùng đă trở về ngôi nhà của tổ tiên khi hai tay ông đă buông xuôi...
Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đă ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đă xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Băi cát không c̣n cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đă bị xóa khỏi bản đồ của trái tim.
Tôi nhớ những trận mưa băo thổi mù trời, nước dội xuống ngập thành phố, những hàng cây trụ điện gẫy gục, và sóng biển thổi táp lên tận nhà hàng Frégate, nơi có cô bé đầm lai tên Odette chờ tôi mỗi khi tan lớp ra về.
Tôi nhớ bà d́ của bạn T.T.L. người thường xuyên cho tôi được đến nhà hàng của d́ “ăn cho bơ những ngày cơ cực”. Tôi nhớ tôi là đứa học tṛ không có sách cầm tay, đi lang thang từ nhà ông chú này đến nhà bà cô khác. Ngồi ăn một ḿnh dưới ngọn đèn điện tối ám hơn cả ngọn nến leo lắt nhất của ai đốt trên ngôi mộ nghĩa địa. Tôi là một đứa trẻ lớn lên không có t́nh yêu. Và tôi hiểu tại sao tôi yêu tất cả mọi người, kể cả những người không yêu tôi.
Mười lăm năm sau trở lại thăm thành phố, nơi đă nh́n tôi lớn lên như một thứ cỏ cây, tôi muốn t́m câu trả lời cho câu hỏi tại sao tôi đă không đập phá nổi loạn thời gian đó? Tại sao tôi đă không nắm dao đâm thẳng vào những kẻ quyền thế hà hiếp kẻ khốn cùng? Tại sao tôi đă không cầm súng lia vào cái đám hănh tiến khốn nạn vẫn thường vênh váo, dửng dưng trước nỗi đau của người khác? Tại sao tôi đă không cho nổ tan xác cái bọn phè phỡn trong khi những bà mẹ những bà chị những người em c̣ng lưng trên những gánh hàng rong suốt ngày, suốt đêm, suốt đời vẫn không đủ tiền nuôi nổi một miệng ăn... Tại sao tôi đă không là một tên du đăng?
Mười lăm năm sau ngày ra đi khỏi nước, tôi trở về nh́n lại biển xưa thấy không c̣n lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên băi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đắp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về... Trở về nhưng không biết về đâu. Nhà ông chú hay nhà bà cô. Và ngôi nhà nào sẽ mở cửa cho tôi bước chân vào?
Mười lăm năm sau trở lại Nha Trang thăm lại người Thầy cũ, tác giả Le Fils de la Baleine, người Thầy mà tôi từng mơ ước được một lần ngồi xuống hỏi ông rằng “làm cách nào con có thể đừng chán sống mỗi phút mỗi giây, làm cách nào con có thể ném tất cả mọi thứ phù phiếm để sống như một con người không bị cây kim đồng hồ níu kéo, làm thế nào để cái không gian không ngự trị trên suy nghĩ của ḿnh, làm thế nào để sống mà như đă chết rồi?”
Căn nhà của Thầy Cung Giũ Nguyên nằm trên con đường nhiều bóng tối, lởm chởm sỏi đá. Thầy già và gầy đi rất nhiều. Pḥng khách lạnh, trơ trụi. Nhưng pḥng làm việc của Thầy với chiếc computer thời hiện đại là bằng chứng của một tinh thần vẫn c̣n khỏe mạnh. Cuốn tiểu thuyết viết bằng Pháp ngữ Le Boujoum của ông do Trương Vũ tặng tôi mới đây là câu trả lời rất thuyết phục.
Mười lăm năm sau trở lại quê hương, tôi thấy ḿnh giống như một du khách, mặc dù trái tim tôi không ngừng đập về một cơn gió của mùa Thu cũ đang chạy trên con đường xưa kia tôi đă từng đi.
Nhà Từ Đường của tôi không c̣n sáng dưới ánh nắng màu vàng ấm mà tôi mơ tưởng khi c̣n ngồi trên máy bay cất cánh từ thành phố San Jose, h́nh dung khi vừa bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất, hồi hộp khi bước đi trên con lộ dẫn qua hàng rào dâm bụt ngày xưa...
Tôi đă trở về một nơi không ai nh́n ra tôi.

Tháng mười hai, 2001
NGUYỄN XUÂN HOÀNG.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved