Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Thấm thoát thế mà đă gần hết năm con Dê, và chúng ta đang chuẩn bị bước vào năm con Khỉ. Trang SALADE EsPRESSO rất hân hạnh được “mở hàng” đầu năm Giáp Thân với bài khảo luận “Khỉ và Người” của Sầu Đông - Nguyễn Thọ Chấn gửi cho chúng tôi từ Toronto (Canada). Đầu năm khỉ nói chuyện khỉ là hợp thời trang nhất rồi! Xin thành thật cảm ơn nhà văn Sầu Đông, và xin tác giả đừng mắng chúng tôi về cái h́nh con khỉ đang đánh-đu-cho-nó-vui ngay phía trên đề tựa rất nghiêm trang của bài khảo luận, rằng “khiếp, nhặt ở đâu ra cái của liếng-khỉ thế này?”
SALADE EsPRESSO.
(Jan 06, 2004)


KHỈ VÀ NGƯỜI

. MỘT
Trong một dạ tiệc, một quan lớn chẳng hiểu rù ŕ, ‘‘khọt khẹt’’ thế nào mà một phu nhân bỗng la toáng: “Khỉ nó vừa vừa thôi chớ, về nhà mà khỉ!’’. Quan sượng trân!!!... Lại cũng trong dạ tiệc ấy, ở một góc mờ mờ tối, một nữ lang cười t́nh tứ, ghé tai một quan khác, bỏ nhẹ: ‘‘Sao khỉ thế? Chờ tan tiệc rồi về đâu th́ về, tha hồ mà... khỉ!’’.
Quí vị thấy không? Người nói chuyện khỉ có khi bị người nghe la chói lói, mà có người trong bụng thấy gióng trống mở cờ. Tṛ “khỉ” và tṛ “người” (cờ người) xem ra chẳng khác nhau lắm.
Kể từ ngày thuyết tiến hóa của Charles Darwin ra đời, vị trí của khỉ trong nghiên cứu khoa học, và cả trong lịch sử tiến hóa của loài người ngày càng quan trọng. Từ vài thế kỷ nay nhiều nhà nghiên cứu về giới linh trưởng (loài sử dụng hai tay) c̣n dám lập thuyết là khỉ và người cùng một bành tổ. Thuyết này đă gây nên nhiều phản ứng mănh liệt khắp nơi trong nhiều thế kỷ trước, nơi những nhà lănh đạo tôn giáo, đặc biệt ở Âu-Mỹ. Nhưng khoa học là khoa học, và mới đây Đức Giáo Hoàng của giáo hội Công-giáo La-mă đă công khai thừa nhận học thuyết tiến hóa (*). Trong nhiều thế kỷ liên tiếp, nhiều nhà khoa học thuộc đủ mọi ngành khác nhau đă không ngừng t́m hiểu các loài linh trưởng về mặt giải phẫu, sinh học, cũng như động thái để t́m những tương đồng, cũng như những dị biệt đối với loài người chúng ta. Nhiều nghiên cứu cho thấy những khía cạnh hết sức thú vị của những con-tương-cận với giống người này. Riêng về mặt sinh hoạt tính dục giống khỉ nói chung rất “khỉ”, trội hơn hẳn tất cả những loài thú khác. Nhưng chỉ ở cái giống người của chúng ta, ta mới thấy những tṛ “khỉ” siêu đẳng, quái đản, nhất là với cái giống người đă tiến hoá đến tột cùng ở Âu-Mỹ hiện nay: đă có những diễn viên chuyên làm tṛ “khỉ” rất tỉnh, rất hồn-nhiên-thơ-thới, giữa thanh thiên bạch nhật, trước ống kính của hàng chục phó nḥm, miễn là tiếng tăm nổi như cồn và tiền bạc được các ông, bà bầu chi trả thoải mái! Có người thắc mắc: “Tṛ con heo” khác “tṛ khỉ” ra sao nhỉ?; Xin thưa: “tṛ con heo” là tṛ “khỉ-hạ-cấp”, c̣n “tṛ khỉ” đích thực là tṛ “con-heo-cao-cấp”; Chỉ cần ghé mắt nh́n tṛ con-heo-cao-cấp qua lỗ khoá cũng đă đủ xây xẩm mặt mày, đê mê thấu xương, thấu tủy rồi!
Thành thử giữa những loài linh trưởng đă tiến hoá khá nhiều (như khỉ đột, đười ươi, hắc tinh tinh..., gọi chung là “giả nhân” do thể tạng to lớn, không đuôi) và cái giống linh trưởng có tên gọi là Người th́ khoảng cách về hoạt động và biểu diễn sex c̣n... xa lắm lắm lận.

. HAI
Từ cổ đại, các triết gia đă xem giống người là sinh vật thượng đẳng khác hẳn những sinh vật khác, và không có cách chi xếp giống người vào chung hàng ngũ với những sinh vật khác được. Triết gia người Hy-lạp Aristotle đă nói người là loài thú chính trị (political animal). Descartes bảo rằng chỉ có con người mới biết đến lư luận. Thánh Augustine nói chỉ có giống người mới đi t́m khoái lạc nơi sex hơn cả mục đích sanh con, đẻ cái. Nhưng vào năm 1960 một phụ nữ trẻ – chưa hề được huấn luyện về khoa học – đă làm đảo lộn những nhận định trên khi bà ta quan sát những con khỉ đột bên bờ hồ Tanganyika (thuộc Phi Châu). Phụ nữ đó tên là Jane Goodall. Qua những quan sát mà bà ghi nhận, người ta không khỏi thấy được tham vọng, ghen tuông, ngụy trá, và cả yêu thương tŕu mến nơi những chàng và nàng khỉ đột ấy. Những chàng và nàng khỉ đột cho thấy Thánh Augustine chưa thật chính xác, và những chị cùng những chàng bonobo (một loại khỉ rất gần về động thái với những khỉ đột, sống chủ yếu ở những vùng rừng rậm dọc sông Congo, Châu Phi) c̣n bay bướm hơn nữa: chúng dùng sex để giúp bữa ăn của chúng ngon hơn; chúng cũng làm như vậy để chấm dứt căi vă lẫn nhau; và để kết chặt t́nh bạn, không ǵ hơn là cho nhau tí sex.
Từ đó những nghiên cứu về những loài khỉ không những chỉ cho thấy những mặt sơ khai, tự phát, thuần bản năng không xứng hợp với giống người, mà c̣n cho thấy những sinh vật ấy có đời sống xă hội phức tạp và tinh tế chẳng kém ta là mấy. Và như vậy người ta đă tập trung t́m kiếm những điểm tương đồng giữa người và các loài khỉ khác. Mục đích của Goodall (qua hướng dẫn của nhà cổ sinh vật học Louis Leakey) nhằm rọi sáng về hành vi của tổ tiên loài người vào thưở xa xăm mù mịt của lịch sử.
Người ta cũng từng giả định giống người là giống duy nhất gây chiến và giết đồng loại, nhưng vào năm 1974 những nghiên cứu về khỉ đột Phi Châu (chimpanzees) cho thấy chúng cũng biết âm thầm len lỏi vào địa vực của những bầy lân cận, phục kích những con đực và đánh đập cho đến chết.
Chúng ta cũng từng tin rằng ta là loài duy nhất có ngôn ngữ. Nhưng rồi những nghiên cứu lại cho thấy là khỉ cũng có một vốn ngữ vựng để chỉ những thú săn mồi và các loại chim, trong khi những linh trưởng cấp cao (khỉ đột, đười ươi...) và loài két có thể học một lô những h́nh ảnh tượng trưng cho tiếng nói. Ta chưa có thể nói thêm ǵ về văn phạm và ngữ pháp nơi đây đối với giống khỉ.
Một số nhà khoa học tin là linh trưởng cấp cao (trừ giống người) không thể suy đoán xem đối phương “nghĩ” ǵ, nhưng lạ lùng là khỉ đột thường giỏi giả vờ lắm. Có trường hợp khỉ đột con làm bộ bị khỉ lớn tấn công chỉ với mục đích là được bú tí mẹ. Kenan Malik đă lư luận: ‘‘Con người, nói cách đơn giản, khác với loài vật; Thật phi lư quá lắm khi ta giả định ta giống với chúng...’’. Điểm chính yếu của Malik là con người có lương tri và khả năng can thiệp, và như vậy chỉ chúng ta mới có thể phá vỡ ṿng kim-cô g̣ những cái đầu của chúng ta, và vượt lên trên tầm nh́n duy ngă của ta để trông ra thế giới bên ngoài. Nhưng người ta cũng thấy là lương tri và khả năng can thiệp không chỉ giới hạn nơi giống người và bản năng không chỉ thuần nằm nơi các loài thú. Mới đây, giống khỉ baboon (khỉ chó-mặt-đỏ) lại c̣n biểu diễn thành công những nhiệm vụ điện toán cho thấy chúng cũng có thể có lư luận trừu tượng. Những tranh biện này đă kéo dài hơn một thế kỷ. Darwin đă làm một liệt kê những tính chất đặc thù nơi con người, và nơi khỉ; và dẫn ta tới kết luận coi giống khỉ chẳng khác những kẻ học việc và giống người như loại thợ chuyên nghiệp. Lối so sánh này đă bị chỉ trích nặng nề, mặc dù ở một số trung tâm nghiên cứu người ta đă t́m cách dạy cho khỉ đột, đười ươi... và vẹt nói được một số tiếng. Nhưng nói chi th́ nói ta vẫn phải nh́n nhận rằng ngôn ngữ mà giống người sử dụng có nguồn gốc và những tương đồng với những thông tin giữa các loài thú khác. Tóm lại, giữa chúng ta và những loài linh trưởng khác có những điểm đồng và có cả những điểm dị nữa.

. BA
H́nh dạng giống nhau thường là kết quả của cùng một gốc mà ra. Chẳng hạn bàn tay có năm ngón giữa người và khỉ, không phải do lối sinh sống của hai loại này, mà bắt nguồn từ những sinh vật vừa sống trên cạn, vừa sống dưới nước từ những thời cổ đại.
Nhưng những động thái xă hội th́ không như vậy. Những chủng loại có nguồn gốc gần nhau có thể có tổ chức xă hội rất khác nhau nếu chúng sống trong những môi trường sinh thái, hoặc dùng những thực phẩm khác nhau. Những bà con xa có thể có những hệ thống xă hội tương tự nhau. Hai chủng loại cho thấy những động thái xă hội giống nhau không hẳn là chúng có cùng tổ tiên, nhưng có nhiều phần là do môi trường sinh sống đă định h́nh nếp sinh hoạt của chúng.
Những nghiên cứu của George Schaller và Diane Fossey về đười ươi,
của Birute Galdikas về giống orangutan (loại khỉ lông đỏ và dài sống trong vùng rừng rậm Borneo và Sumatra), và của Takayoshi Kano về giống bonobo cho thấy những điểm tương đồng, và cả những dị biệt rơ rệt. Trong vườn thú, một con khỉ đột (chimpanzee) trông hơi giống một con đười ươi (gorilla) nhỏ. Nhưng trong rừng chúng sống rất khác nhau. Chính yếu là do chế độ ăn uống. Đười ươi ăn cây, cỏ và một ít trái cây. Khỉ đột th́ chủ yếu ăn trái cây, và bắt thêm kiến, mối và cả thịt khỉ khi chúng tóm được. Cần nhiều lá để ăn, và phải ăn nhiều để có sức, đười ươi thường quanh quẩn ở địa bàn tương đối hẹp của ḿnh, và đười ươi đực thường độc quyền trên một bầy đười ươi cái cùng những đười ươi con trong bầy. Những đười ươi đực khác lảng vảng vào địa vực của nó là có chuyện ngay.
Nhưng trái cây rừng ở rải rác khắp nơi, và khỉ đột cần những khu vực rộng lớn hơn để có thể t́m được đủ trái ăn. Và khi nơi nào có nhiều trái cây th́ khỉ đột ở nhiều nơi sẽ cùng chia nhau nguồn thực phẩm ấy. Địa vực rộng, cả đàn có khi tản mác thành nhiều nhóm qua nơi khác. Trong trường hợp này chủ nghĩa đa thê theo đó một con đực đầu đàn kiểm soát trọn vẹn bầy cái là điều không thể thực hiện được. Tốt hơn hết là chúng cùng chia nhau những đặc ân mà các con cái dành cho phái đực của chúng. Con đầu đàn vẫn ăn trùm nhưng không c̣n độc quyền nữa. Và v́ phần lớn những con cái thường “đi lại” với những con đực khác trong đàn, nên cuộc tranh dành ảnh hưởng truyền sinh c̣n xảy ra ngay tận trong ḷng (tử cung) những con cái. Tinh trùng con nào khoẻ sẽ diệt tinh trùng của những con yếu hơn. Hậu quả là tinh hoàn của khỉ đột lớn ghê gớm, và khả năng “yêu” của chúng cũng ghê gớm không kém. Tinh hoàn của khỉ đột lớn hơn tinh hoàn của đười ươi đến 16 lần.
Ta c̣n thấy một hậu quả khác nơi những nhóm đười ươi: nạn sát hại đười ươi con, như đă từng xảy ra ở những giống linh trưởng khác. Một con đực đơn thân luồn lách vào bày đười ươi, tóm một con c̣n nhỏ, và giết đi. Hậu quả thường thấy là đười ươi mẹ bỏ “gă” đười ươi cha đẻ của đứa con bị giết, và đi theo kẻ sát nhân. Ở đây ta thấy một thứ lư luận “đười ươi”: Hăy lấy kẻ nào bảo vệ được những đứa con của ḿnh; những kẻ không bảo vệ được con ḿnh là những kẻ “hết xài’’. Xă hội loài người, trong một chừng mực nào đó, đă có những diễn dịch không mấy khác với thứ lư luận đười ươi nói trên! Giết con trẻ là một bản năng nơi đười ươi đực.
Giống khỉ đột khôn ngoan hơn. Những con cái, để tránh t́nh trạng khỉ con bị giết, đă ban “ân sủng” cho đủ hạng khỉ đực. Và cứ theo diễn giải của một vài nhà nghiên cứu th́ các chú khỉ đực, v́ không rơ khỉ con có phải là con của ḿnh hay không, đă không dám xuống tay!
Trên thực tế tinh hoàn của khỉ đột chẳng thấm thía ǵ so với thể tạng của chúng, nhưng so với đười ươi th́... như ta đă thấy!!
Những nhà nhân chủng học thường mô tả h́nh thái đa dạng của những nền văn hóa khác nhau nơi loài người, nhưng cho tới nay chưa thấy ai đem con người vào khoa giải phẫu so sánh (comparative anatomy) với các loài linh trưởng kể trên. Và cũng chưa ai dám đem so sánh những hệ thống xă hội của loài người với hệ thống xă hội của những loài ấy. Ngay cả trong những xă hội đa thê nhất, cũng chưa ai từng thấy bầy phi tần trong cung cấm được đặt dưới quyền sử dụng của hết đấng tu mi này qua đấng tu mi khác. Và cho đến nay, mặc dù đă có những toan tính khác nhau nhằm thiết lập một kiểu “công xă yêu-thả-dàn“ (free love) (**), cũng chưa từng ai thấy một kiểu xă hội loài người nào trong đó bất cứ gă đàn ông nào cũng có quyền làm t́nh, ngắn hạn và lập đi lập lại nhiều lần, với tất cả mọi chị đàn bà trong cùng xă hội ấy. Âu cũng là điều may mắn lớn lao cho xă hội loài người của chúng ta!
Ở Châu Phi ta phải kể thêm giống bonobo sống ở phía nam sông Congo, trông giống khỉ đột, nhưng đă tiến hoá từ giống khỉ đột từ 2 triệu năm trước. Chúng cũng ăn trái cây, địa bàn sinh cư của chúng cũng rộng lớn như của khỉ đột, và cũng chia sẻû chung với bầy đàn những con đực khác. Tinh hoàn cũng như đời sống t́nh dục của chúng chẳng mấy khác giống khỉ đột. Nhưng như để dạy cho chúng ta biết thế nào là sự kém cỏi của khoa học, ở giống khỉ bonobo, khỉ cái thường thống trị và hăm dọa khỉ đực. Chúng lập thành liên minh và hỗ trợ lẫn nhau. Khi một con đực gặp rắc rối nó chỉ nên trông cậy vào khỉ mẹ của nó hơn là trông chờ vào đồng bọn đực rựa. Khỉ cái trưởng thành, với sự hỗ trợ của các bạn đồng giới, thường trấn áp bất cứ chú khỉ đực nào. Nhưng tại sao lại có chuyện trớ trêu như vậy? Bí mật nằm ở liên hệ tính dục. Sợi dây thắt chặt t́nh liên đới giữa hai con cái chính là những hiệp “hoka-hoka” mà giới nghiên cứu gọi một cách kém văn hoá là “cọ sát bộ phận sinh dục với nhau”!
Và để phản ứng lại cái chế độ “nữ trị” như học thuyết trọng nữ (feminist doctrine) dự đoán, các chú khỉ đực trở nên tử tế hơn, lịch thiệp hơn. Người ta ít thấy chúng đánh nhau hay la lối om x̣m. Và cho đến hiện nay chưa ai từng ghi nhận được một trường hợp nào trong đó những con khỉ đực của nhóm này phục kích và giết hại khỉ đực của những nhóm khác. V́ những con bonobo cái hoạt động tính dục c̣n hăng hơn cả bọn khỉ đột, nên chiến lược thích đáng của những con bonobo đực để có thể truyền sinh đến những thế hệ sau là để dành sức lực “trên giường”, chớ không phải là để tỉ thí trên vơ đài. Trong cuốn “Sexual Selections”, Marlene Zuk đă cho thấy là khi khám phá ra đời sống tính dục của khỉ bonobo, bà đă biến chúng thành những nhân vật thời thượng nổi tiếng, hơn cả những chú cá heo thông minh nữa. Chẳng bỏ lỡ cơ hội, Dr. Susan Block (thuộc Susan Block Institute for the Erotic Arts and Sciences ở Beverly Hill) đă gióng trống, thổi kèn về cái gọi là “sex-theo-kiểu-bonobo”, và mạnh miệng hô hoán là muốn cho ḥa b́nh tràn lan trên khắp hành tinh này không ǵ bằng noi gương những người bạn tương cận ấy. “Make Love And Not War” là tiếng phèng la của Thời Đại Mới của chúng ta?!

. BỐN
Cuộc tranh biện về tính cách biện-biệt duy nhất của loài người, giữa phái theo thuyết tiến hóa của Darwin và phái biện-biệt theo Descartes cho đến nay chưa hề có dấu hiệu chấm dứt. Các thế hệ hầu như vẫn phải tiếp tục những trận chiến cũ. Nếu bạn vào một thế giới khi người ta đă sa đà quá cỡ vào cái vẻ tương đồng về ngoại h́nh, bạn có thể lại thấy luận cứ mới về sự khác nhau xa lắc xa lơ giữa loài thú và loài người. Nếu quanh ta đầy những dị biệt, ta lại có thể hô hoán về những tương đồng. Triết học giống như thế này: miên viễn bất định và thỉnh thoảng bị khuấy động bởi một vài sự kiện mới. Vậy mà đă có lúc một đe dọa bất ngờ xảy đến cho cuộc tranh luận thú vị này – đó là sự đe dọa của một xác quyết, mối đe dọa định nghĩa một lần cho dứt khoát, tận cội nguồn, để coi xem cái ǵ là khác nhau giữa một con người và một con khỉ đột; Và ta phải làm chi để khỉ đột có thể thành người.
Điều này xảy ra vào khoảng thời gian mà Jane Goodall đánh giá thấp tính cách đặc biệt của động thái nơi con người. Người ta quên đi vấn đề này cho tới năm 1960 khi họ t́m lại thí nghiệm mà George Nuttall, một người California, đă tiến hành vào năm 1901 tại Cambridge University. Thí nghiệm của Nuttall cho thấy máu của những chủng loại gần nhau tạo ra phản ứng miễn dịch gần giống như nhau trên thỏ. Bằng cách này Nuttall cho thấy là người gần với những loại linh trưởng cấp cao (đười ươi...) hơn là với khỉ. Điều này có phần rơ ràng v́ cả người lẫn những loài kia đều không có đuôi, và c̣n thêm cả những đặc trưng khác. Nhưng vào lúc bấy giờ những thí nghiệm như thế vẫn c̣n gây những dị nghị. Năm 1967 ở trường đại học Berkeley, Vincent Sarich và Allan Wilson đă làm sống lại kỹ thuật sinh hóa của Nuttall. Họ đi đến kết luận là người và các loại linh trưởng cấp cao có cùng chung ông tổ cách đây vào khoảng 5 triệu năm mà thôi, chứ không phải 21 triệu năm như hiểu biết trước kia. Các nhà nhân chủng, bằng các di chỉ hóa thạch, đă phản ứng trở lại. Năm 1975, Wilson đă yêu cầu sinh viên của ḿnh là Marie-Claire King làm lại bài tập về DNA nhằm t́m sự sai biệt di truyền giữa người và linh trưởng cấp cao (đười ươi, khỉ đột...). King cho biết không thể t́m được khác biệt v́ DNA của người và DNA của khỉ cấp cao tương tự nhau đến ngỡ ngàng: gần 99 phần trăm DNA nơi con người y hệt như nơi khỉ đột. Wilson lạnh người: sự tương đồng trội hơn hẳn sự sai biệt. Các thí nghiệm sau này đạt những ước lượng về tương đồng ở khoảng 98.5%, và hai nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây về hệ di truyền đương thời (actual genome) cho ta con số 98.76%! Nhưng chỉ riêng con số 98.5% cũng đă đủ đập vào ư thức của quần chúng, và đă gây “cú sốc” rất mạnh trong giới nghiên cứu khoa học. Vào năm 1984, Charles Sibley và Jon Ahlquist của trường đại học Yale cũng đă t́m thấy DNA của khỉ đột gần người hơn là với đười ươi, và hai nhà khoa học trên đă xếp giống người vào chung một gia đ́nh với họ khỉ. Từ nhận biết ta là một chủng loại khởi thủy cách nay 16 triệu năm, giờ ta lại phải nh́n nhận có chung tiên tổ với họ nhà khỉ chỉ không hơn 5 tỉ năm. Và ta c̣n là một chi mới nhất trong họ ấy nữa.

. NĂM
Thời gian đă làm dịu đi những “cú sốc” này. Đọc DNA của người cùng một thể thức như khi đọc DNA của khỉ đột có thể giúp chúng ta xác định luôn một lần sự khác biệt người với khỉ. Cho tới lúc này, ta chưa có được hệ di truyền (genome) đầy đủ của khỉ đột, nhưng ngay cả khi ta có đầy đủ, chứng minh những khác biệt xem ra vẫn không ít ngoắt nghoéo. Hệ di truyền nơi người chứa khoảng 3 tỉ kư tự. Nói cho nghiêm chỉnh, đó là những cơ sở hóa học (chemical base) trên một phân tử DNA, nhưng v́ chính trật tự của chúng chứ chẳng phải những tính chất đặc thù của chúng, đă xác định những ǵ chúng tạo ra, nên ta có thể xử lư chúng như những kư hiệu thông tin điện tử (digital information). Sai biệt giữa hai cá thể người, trung b́nh là 0.1%, và như vậy giữa ta và người kế cận ta sai biệt lên tới 3 triệu kư tự; Và giữa ta với khỉ đột là 1.5% hay 45 triệu kư tự, mười lần nhiều hơn số chữ trong Kinh Thánh. Các nhà khoa học hiện nay nh́n nhận có khoảng 30,000 yếu tố di truyền (gene) nơi người, nghĩa là rải rác qua hệ di truyền (genome) là 30,000 những dải kư tự kiểu điện tử được coi như là nhà máy protein để làm chạy cơ thể và tạo lập nó. Suy ra ta có thể thấy là giống người có riêng đến 450 yếu tố di truyền của riêng ḿnh, không chung với bất cứ khỉ đột nào. C̣n lại khoảng 29,550 yếu tố kia là chung cho cả hai loài.
Đến đây ta đă đi khá sâu vào lănh vực di truyền học, là lănh vực đ̣i hỏi nhiều hiểu biết, cũng như nhiều năm nghiên cứu; tuy vậy ta cũng nên biết thêm là c̣n một sai biệt quan trọng khác giữa giống khỉ và giống người là tất cả các loại khỉ cấp cao đều trội hơn loài người một cặp nhiễm-sắc-thể (chromosome). Các nhà nhân chủng học đă cho rằng ở một giai đoạn nào đó trong quá tŕnh h́nh thành giống người, hai nhiễm-sắc-thể của loại linh trưởng cỡ trung (middle-sized ape chromosomes) đă hoà nhập để thành nhiễm-sắc-thể lớn hơn nơi giống người, được biết dưới tên gọi “nhiễm-sắc-thể số 2”. Đây là một sắp đặt thật đáng ngạc nhiên, và có phần chắc chắn là giống lai giữa khỉ đột và người (đến đây ta hăy nhớ lại câu chuyện Tô Vũ ăn ở với đười ươi vào đời Hán bên Trung Quốc) sẽ không sao truyền giống được đến những thế hệ sau, như ta thấy trường hợp giống lai giữa lừa và ngựa (con la). Nhưng tại sao giữa người và khỉ đột những đơn vị di truyền phần lớn giống nhau mà lại là hai giống loài khác nhau? Làm thế nào mà bộ năo của chúng ta lại lớn gấp ba lần hơn bộ năo của khỉ đột, và có thể học nói mà không cần phải có một bộ những yếu tố di truyền (genes) khác bù vào?
Câu chuyện về lịch sử tiến hóa của nhân loại dưới những tia sáng soi rọi của khoa học tưởng chừng như giúp cho loài người nh́n rơ ‘‘bản lai diện mục’’ của ḿnh, nhưng những khám phá ngày càng nhiều và chính xác của khoa di truyền học xem ra vẫn không sao giải quyết cho ổn thỏa câu hỏi đơn giản và muôn thuở là: Thế giới này, và qua đó con người, từ đâu tới? Sự có mặt của loài người trên cơi “sống” này nhằm mục đích ǵ?... Ta đi đến những thắc mắc nền tảng như những bậc thầy minh triết từ ngàn xưa.
Và ngày xuân dạo chơi một ṿng sở thú, nh́n ngắm những chú khỉ tư lự, hay những chị khỉ cái la chí chóe trên cành, ta như chợt nh́n thấy trong ta cái bóng h́nh con Người của hàng triệu năm trước. Ta bỗng thèm được sống lại cái giây phút hoang sơ của thời tạo thiên lập địa, ghé miệng cắn trái táo cấm trong vườn địa đàng, khi một bóng hồng tóc vàng mắt biếc liếc cặp mắt hút hồn của nàng về phía gă di dân ngẩn ngơ lạc đàn bị bắt quả tang đang chăm chú nh́n làn da mịn màng đến điếng người trên trũng ngực của nàng.
Chúa ôi!!!...

SẦU ĐÔNG.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved