Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Đăng bút kư “Nhân một chuyến đi” của Sầu Đông - Nguyễn Thọ Chấn trên trang SALADE EsPRESSO có lẽ là một ngoại lệ, nếu như nghĩ rằng nội dung của bài viết này không liên quan nhiều lắm đến Du Lịch - Văn Hóa, ngoại trừ cái tựa đề của nó. Bút kư tuy mang nhiều nét riêng tư (do đó có thể hơi “khô”), nhưng nó làm người đọc xúc động v́ nó là tâm t́nh chung của nhiều thế hệ Việt Nam đă sống qua cuộc chiến tranh tương tàn và nhiều thập niên sau chiến tranh, bao gồm những người đă bỏ nước ra đi và những người c̣n ở lại. Trước tác nhỏ này của Sầu Đông khiến tôi liên tưởng đến một tác phẩm âm nhạc của nhà soạn nhạc Nga Xô-Viết Dmitri Shostakovitch, bài Romance (viết cho phim “Gadfly”, 1955). Cả hai đều là những tác phẩm rất nhỏ, nhưng nó tải chứa nỗi thống khổ và niềm hạnh phúc lớn lao, vừa lăng mạn vừa mang nét sử thi (épique), trong thân phận của từng con người và thân phận của cả một đất nước.
Trần Chính.
(California, Sep 05, 2003)


NHÂN MỘT CHUYẾN ĐI

Ngoài niềm vui khi dự đám cưới một đứa cháu ruột trong vùng San Jose, chuyến đi Cali. từ ngày 14 đến 24 tháng 11 năm 2002 vừa qua đă đem đến cho tôi nhiều niềm vui khác. Những nỗi vui bất ngờ mà những người bạn hoặc đă cùng chung lớp, chung trường ở Sàig̣n xưa, hoặc đă cùng trú đóng tại một tỉnh trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt của cuộc chiến VN tặng cho ḿnh. Bất ngờ đầu tiên là nhóm các anh thuộc hội ái hữu cựu Chu Văn An - Bắc Cali: các anh Vũ Mạnh Phát, Phạm Nguyên Khôi, Phạm Huy Thịnh, Nguyễn Đ́nh Phương, và Nguyễn Trọng Dzũng đă tiếp và đăi một chầu phở ngon và thân t́nh ở Phở B́nh, San Jose. Tôi vẫn tự hào vào được Chu Văn An ngay từ năm đệ thất (lại là đệ thất B1). Tôi ra khỏi Chu Văn An vào năm đệ nhất (1960). Trên thực tế tôi chỉ học tại ngôi trường này có hơn một năm (vài tháng đệ thất, rồi chuyển qua trường Trần Lục ở Tân Định (Sàig̣n). Với một số cựu Chu Văn An vùng Bắc Cali, tôi có duyên may đặc biệt. Phải nói ngay là trong nhiều năm từ khi cùng gia đ́nh đặt chân lên Bắc Mỹ, với những chấn thương tinh thần nặng nề phải chịu đựng lâu dài trước và sau 75 tại quê nhà, cùng với những khó khăn chập chùng nhiều mặt trong những năm đầu ở Canada, tôi đă hầu như muốn tránh hẳn những sinh hoạt hội đoàn v́ mỗi lần tiếp xúc với bên ngoài tôi đều thấy rơ ḿnh bị hụt hẫng, bối rối, vụng về, nhất là vào những ngày gặp nhiều căng thẳng, phiền muộn. Vậy mà loanh quanh một chặp (tôi không thật nhớ rơ trong dịp nào nữa?) tôi đă điện thoại nói chuyện với anh Phương ở San Jose. Tôi đă nghĩ anh Phương - San Jose này là Nguyễn Đ́nh Phương đă có lúc cùng tham dự một khoá đào tạo đặc biệt với tôi tại Trung Tâm Khuếch Trương Xuất Cảng Sàig̣n vào đầu năm 1974, và hiện nay đang cư ngụ trong vùng Toronto, Canada. Sau đó, tôi lại đă có dịp giao lưu với anh Phạm Huy Thịnh và anh Nguyễn Trọng Dzũng trong một diễn đàn nặng phần vui đùa, nghịch ngợm (E-Circle) trên mạng lưới điện tử cách nay vài năm. Các cựu Chu Văn An lứa chúng tôi t́nh đồng môn rất đậm đà, mà óc hài hước chẳng thiếu, ngay trong những t́nh thế tưởng chừng chỉ có nước mắt mà thôi. Tôi có cảm tưởng chúng tôi gần nhau về cách đùa: có quậy đôi chút nhưng không quá xàm xỡ, và không tọc mạch đến đời tư của nhau, chưa kể là anh Thịnh có người em là vơ sư Phạm Huy Khuê nổi tiếng với vơ đường Hùng Vương là nơi đă rèn luyện và đào tạo được nhiều môn sinh rất mực tư cách trong cuộc sống xă hội khiến tôi tự nhiên có nhiều thiện cảm với anh. Lần trước gặp các anh Phát, Khôi tôi c̣n đôi phần ngại ngùng v́ hễ nghe đến các vị chức sắc trong các hội đoàn, dù là các hội đoàn thuần túy ái hữu, tôi thường vẫn không mấy thoải mái. Nhưng lần này gặp lại hai anh Phát và Khôi những ngại ngùng tan biến ngay trong những cái bắt tay ấm và chặt. Anh Phát lần này đỏ da, thắm thịt hẳn ra, và khi nhận được tập thơ "T́nh Anh Như Thế Đấy" từ tay anh (nhà thơ Kim Vũ), tôi thoáng thấy trên khuôn mặt của anh nụ cười hài ḷng rất trẻ thơ của... một kẻ đang được yêu (lần trước, cách đây hơn hai năm, khi gặp anh tại văn pḥng của anh Thịnh, anh có cái nh́n nghiêm, và nụ cười c̣n nhuốm chút ngạo đời?!). Tôi chưa được biết mặt "người yêu" của anh nhưng một phụ nữ có khả năng biến một lăo nhân giữa khoảng sáu, bảy bó thành một nhà thơ t́nh tứ, c̣n rất nhiều hứng khởi (như ta có thể thấy ngay nơi h́nh b́a) th́ có nhiều phần là một phụ nữ có đời sống nội tâm phong phú, và cũng c̣n rất hoạt động về nhiều mặt khác nữa (viết đến đây tôi nhớ đến cú điện thoại của một người bạn ở Nam Cali cho biết là trong buổi hội ngộ của một số anh em bạn học cùng một cấp lớp với tôi ngày xưa những năm đầu trung học vào cuối tháng 11/2002 vừa qua, một anh bạn là bác sĩ đă ưu ái tặng cho các tham dự viên mỗi người một ít viên Viagra gọi là... chút quà gợi hứng dành cho các trang nam nhi từ sáu bó xấp lên, để quí vị này có thể tiếp tục cuộc vui tại nhà, sau khi đă vui với anh em trong một tiệm ăn trong vùng). Các cựu CVA Bắc Cali tôi gặp đều là những người từng trải việc đời, lại rất mực yêu thích văn nghệ, sinh hoạt xă hội, và một số c̣n cả những hoài băo về những lănh vực sinh hoạt này. Ở Cali tôi có một người bạn thân là cựu sĩ quan hải quân (cựu hải quân trung tá Vũ Hữu San - một cựu CVA) cùng học đệ nhất B3 ở CVA năm 1960, là người bạn mà tôi cảm phục về tư cách và tâm t́nh, nên khi gặp anh Phạm Nguyên Khôi, được biết cũng là cựu sĩ quan hải quân, là cựu học sinh CVA lớp sau, tôi thấy giữa chúng tôi có một mối thiện cảm thật tự nhiên; nhưng mỗi lần gặp lại các bạn cũ hoặc thân hữu ở vào thế hệ chúng tôi, nhất là những người đă từng ở trong quân ngũ, tôi bỗng thấy những nghẹn ngào, và trong phút giây những phẫn hận như ở những ngóc ngách tối tăm nào đó trong tâm hồn vốn rất đơn sơ của ḿnh bỗng ùn ùn kéo về. Những người bạn như San, như Khôi và biết bao thanh niên ở vào lứa tuổi chúng tôi đă phải thực sự gánh trên vai sức nặng quá tầm của cuộc chiến phức tạp và ô nhục tại VN, khi chúng tôi c̣n non trẻ nhiều mặt. Tôi đă nhiều ngày đêm thắc mắc về phát đạn đại bác không ra khỏi ṇng súng trên một chiến hạm trong trận hải chiến không cân sức giữa lực lượng hải quân Trung cộng và hải quân QLVNCH vào đầu năm 1974, và nay tôi đă hiểu rơ ràng nỗi đau dai dẳng của những người lính ở vào t́nh thế phải chống lại cường địch bằng những phương tiện èo uột, khập khiễng nhất.
Viết đến đây tôi bỗng thấy thương cảm Nguyễn Quang Minh vô cùng (Minh Dzê là hỗn danh - Minh là cựu trung tá thuộc binh chủng thiết giáp hồi trước 75). Tôi đă gọi điện thoại cho Minh báo trước ngày đến và Minh đă hẹn trước với một số bạn cùng học ở Trần Lục, Tân Định ngày xưa lại nhà chơi với vợ chồng Minh ở Fremont vào chiều ngày chủ nhật 17/11/2002, sau ngày đám cưới của đứa cháu ruột của tôi một ngày. Nhưng ngay từ chiều tối hôm thứ sáu 15/11/2002 chúng tôi đă gặp nhau ở nhà của Nguyễn Văn Kiện, cũng là một cựu học sinh Trần Lục, Tân Định (Kiện cũng từ CVA chuyển qua TL). Ngồi nhâm nhi rượu lễ ở nhà Kiện, nh́n Minh nói chuyện sôi nổi như những ngày c̣n ở Trần Lục xưa, và nh́n nét mặt c̣n hằn những khắc khổ của đời lính chiến trước 75, đời tù sau 75, và đời cơm áo trên đất Mỹ của Minh, cùng với những biến đổi vô thường trong đời sống t́nh cảm, gia đ́nh, trong thoáng giây tôi h́nh dung ra nhiều kiếp người nhọc nhằn trên vùng đất quê hương không mấy thanh b́nh của chúng tôi. Minh vẫn c̣n khoẻ mạnh, và cùng với những vui, buồn khi gặp lại bạn cũ, Minh vừa uống rượu mạnh vừa kể lại chuyện giang hồ thời học tṛ, chuyện gian truân đời lính trong những lần làm chốt thí đảo chính, chỉnh lư, đụng đầu với những sĩ quan cấp bậc vào lúc đó cao hơn anh sĩ quan thiết giáp mới ra trường vài năm rất nhiều, bị an ninh quân đội hỏi thăm sức khoẻ, bị hành xác nhiều lần; và rồi là những trận đụng độ ác liệt với quân chính qui cộng sản, những trừng phạt có phần tàn bạo phải có đối với đám tù từ quân lao ra trong mùa hè đỏ lửa 1972!!! Tàn cuộc vui, Kiện giao mạng tôi cho Minh trên đường đưa tôi về nhà. Lư do: nhà của Minh ở Fremont, tiện đường đưa tôi về lại nhà bà chị ruột của tôi ở Sunnyvale. Ngồi trong xe với Minh, tôi bắt đầu thót ruột khi thỉnh thoảng xe hơi chạy trên đường phố mà như xe tăng chạy lên đồi, t́m cách tránh hoả tiễn địch. Tôi hỏi Minh: "Tỉnh chứ?" Đáp: "Yên chí lớn đi. Moa chạy xe bọn Mỹ phải nể. Sĩ quan thiết giáp coi mấy cái xe hơi này là đồ bỏ!". Về đến nhà tôi thấy mót tiểu, mồ hôi rịn ra ở trán dù lúc đó đă nửa khuya. Trời khuya San Jose lúc đó khá lạnh. Sau đó hai ngày vợ chồng Vương Ngọc Quỳnh chở tôi lại chơi nhà Minh. Chiều tối hôm đó thật vui v́ được gặp lại Phạm Ngọc Bảng đi cùng bà xă từ Santa Cruz xuống. Tôi với Bảng cũng đă có với nhau khá nhiều kỷ niệm những năm trung học, và đă gặp lại nhau sau này trước ngày Bảng phải đi tù, rồi lại gặp lại sau ngày Bảng đi tù về. Cho đến bây giờ tôi vẫn ngỡ ngàng về những người bạn hiền lành của thời trung học như Bảng (như Dương Văn Chiến, Nguyễn Văn Tuấn...) mà qua bao nhiêu đoạn đường chông gai, lăn lộn trong chốn binh lửa, cuối cùng vẫn giữ được nụ cười đằm thắm, khoan hoà trong cuộc sống. Bảng cũng đă gặp nhiều hoạn nạn sau 75: kẹt trong tù nhiều năm không người tiếp tế, thăm nuôi! Và bây giờ, tôi đă thấy cảnh chị Bảng (hiện nay) đem chiếc áo len ra ngoài sân sau nhà Minh choàng áo qua cổ, âu yếm mặc vào cho Bảng. Bảng quả là người hạnh phúc đă gặp được một phụ nữ đảm đang, ân cần. Bảng đă được bù đắp trong phần hậu vận.
Gặp lại Minh tại nhà, vui vẻ, khoẻ khoắn. Minh vẫn nhớ là c̣n "rất tỉnh" khi lái xe trên đường về đêm thứ sáu (một số bạn đă nhắc là uống rượu chớ nên lái xe trên đất Mỹ; v́ cảnh sát Mỹ là thứ cảnh sát rất "khốn lịn" với dân uống rượu lái xe). Lần này, Minh quay qua bà xă nhỏ nhắn, xinh xắn của Minh, âu yếm: "Hôm nào anh dzui nhiều th́ cưng chở anh về nha" (Có bạn đùa bảo là nh́n bà xă của Minh thấy ít ra th́ "cô ấy" cũng phải thua Minh đến...ba giáp). Nhắc đến bà xă của Minh tôi không sao quên được những bông đùa giữa một bạn học cùng trường với Minh: "Thằng này hỗn, đáng lẽ ông đă không gả cháu của ông cho mày. Vợ mày là cháu gọi tao bằng bác, mà mày gặp tao ở đâu, mày cứ ông ổng mày, tao; thằng này quả là hỗn quá lắm!" Cả bàn tiệc ai cũng cười. Bữa tiệc tại nhà Minh vừa vui, vừa ấm t́nh bạn, chẳng màu mè, riêu cua khách sáo, khệnh khạng ǵ. Chị Bảng cho thấy tài làm món ăn Nhật của chị, và món bún ốc của "cô-Minh" chắc chắn là món bún ngon nhất tôi được ăn kể từ mười mấy năm nay. Nước dùng ngọt, bún vừa mềm và ốc thật ḍn. Trong buổi tiệc, tôi đă được nghe ông bạn họ Đào của Minh kể những chuyện phiêu lưu của một thuyền nhân cả gan đi lạc giữa mùa đông băng giá Bắc Mỹ kiếm việc khiến tôi liên tưởng đến những gă họ "Liều" t́m cách vượt biển trong những chuyến vượt biên hăi hùng. Vợ chồng người bạn của Minh tới trễ. Cả hai vợ chồng chuyện vui như pháo tết, và thỉnh thoảng chị bạn cũng cho nổ một trái "tạc đạn" phụ họa với đức ông chồng rất quậy của chị.
Anh chị Vương Ngọc Quỳnh vẫn là những người ít nói, nhưng chan hoà với các bạn đủ dạng, đủ tính, đủ nết như những ngày xa xưa. Nghĩ đến Quỳnh tôi lại nhớ đến Kiện ăn nói nhẹ nhàng như một nhà tu hành đă thấu hiểu lẽ Trời, chừng mực, khôn ngoan. Anh là một người ngoan đạo và cuộc sống gương mẫu của anh chắc chắn đă ảnh hưởng tích cực đến toàn thể gia đ́nh. Hôm ngồi "vui vẻ" ở nhà anh, hai cháu cao, gọn, (một trai, một gái đều nhanh nhẹn, học hành giỏi giang) trước khi ra khỏi nhà để tới tập ở một vơ đường trong vùng đă lễ phép chào các chú, bác bạn quen của bố mẹ. Tôi thật hài ḷng thấy là phần lớn gia đ́nh các bạn học cũ đă có những cháu đáng yêu và đáng quí như vậy. Tại nhà Kiện tôi c̣n gặp anh Trần Trị Chi, được biết có lúc đă học ở Trần Lục và là bạn thân của một vài bạn cùng lớp với tôi những năm thất, lục, ngũ. Anh bắt đầu viết truyện ngắn dựa trên những tài liệu có lẽ đă được ghi chép trong một số luận án về sử.
Tôi cũng đă may mắn gặp lại chị Đinh Quang Vọng trong tiệc cưới của đứa cháu ở San Jose. Chị đi với một cháu trai đă lớn. Nh́n cháu tôi lại nhớ đến Vọng. Mới ngày nào tôi cùng Vọng, Ng.G.Kiểng, Nguyễn Đức Thuần cùng ngồi trong một con hẻm nhỏ trên đường Hùng Vương bên những dĩa ốc gạo và xị đế G̣ Đen, khi Kiểng mới ở tù về, hàn huyên và trăn trở về quê hương dưới ngọn triều đỏ, mà nay th́ Vọng đă vắng mặt trên cơi nhân gian này!!! Điều thật mừng là cuộc sống của chị và cách cháu đều thật ổn định. Chỉ tiếc là tôi đă không gặp được các bạn Đỗ Mộng Chương, Nguyễn Đức Thịnh, Ông Ngọc Bảo, Đào Văn B́nh trong chuyến đi này v́ những lư do ngoài ư muốn của ḿnh.
Hôm sau, tôi lấy xe đ̣ Hoàng xuống Nam Cali. Đào Ngọc Phong đă tới đón ở bến xe trước khu chợ ABC trên đường Bolsa. Gặp lại Phong tôi rất đỗi vui mừng. Không ngờ là ḿnh c̣n gặp lại được bạn thân này trên đất Mỹ. Tôi có đôi phần ái ngại khi thấy nhân dáng của Phong hệt như một pháp sư Ấn Độ (sau tôi được biết là Phong tập Yoga rất đều). Tuy thế, Phong đi đứng có phần nhanh nhẹn hơn xưa. Hơn thế nữa, gia đ́nh Phong đến đất Mỹ khá trễ, theo diện H.O., nhưng anh chị đă ổn định trong sinh hoạt nghề nghiệp, và các cháu đều đă trưởng thành, thành đạt. Voyages Saigon là nơi mà anh chị làm việc được nhiều đồng bào trong vùng khen tặng. Phong với tôi đă từng dạy học chung với nhau ở trung học Kiến Ḥa (Bến Tre) vào giữa những năm 60. Thời kỳ đi dạy chúng tôi vẫn gặp nhau hàng tuần hoặc hai tuần tại Sàig̣n. Chúng tôi đều thân với Nguyễn Tử Lộc, và Nguyễn Nhật Duật (dạy Triết; nay cả hai người bạn này đă ra người thiên cổ!) và thường cà kê, dê ngỗng với nhau. Tôi không phải là dân dạy Triết, nghe các "triết gia" bàn hàng giờ về "hữu thể và hư vô", "hiện tượng luận", "triết học hiện sinh"... tôi đă gọi đùa các bạn là những “philosophes d' état”. Có lần tôi gọi đùa Duật là "người đi trên mây" và Lộc là "nhà cách mạng lăng mạn của thế kỷ thứ hai mươi mốt". Cả hai bạn chỉ cười mà không giận. Tất cả những "triết gia" này đều mê sách và đều là những khách hàng thường trực của những nhà sách Xuân Thu (trên đường Tự Do) và nhà sách Việt Bằng (Lê Lợi). Tất cả đều đă thường trực thắc mắc về phận con người, về thân phận con người Việt Nam trong một cuộc chiến có lúc tưởng chừng không có lối thoát!!! Nay cả hai bạn này đều đă cưỡi hạc qui thiên: Lộc một ít năm sau khi Cộng Sản chiếm trọn Miền Nam v́ ung thư cổ, và Duật mới mất cách nay khoảng một năm tại VN do ung thư phổi. Nay gặp lại Phong tại Lilttle Saigon quả là hi hữu. Hai tối ở lại với gia đ́nh Phong đủ để cùng nhau ôn lại những năm tháng thăng trầm đă qua. Mừng là gia đ́nh Phong đă thật ổn định. Trong số những gia đ́nh các bạn đến Mỹ khá trễ (trong thập niên 1990) có lẽ gia đ́nh Phong là một trong những gia đ́nh đă gặp nhiều hanh thông hơn cả, tuy là làm việc trên đất Mỹ, trong ngành du lịch, áp lực của công việc trên con người không mấy nhẹ nhàng.
Chiều tối hôm sau tôi lại đă có dịp được dự một bữa tối rất vui với các anh Vũ Xuân Hoài, Trần Văn Lương, và Phạm Văn Bân mà tôi đă được biết trong đôi lần trao đổi trên một diễn đàn trên mạng lưới thông tin điện tử do một nhóm các bạn cựu CVA - TL – NT như Lê Quốc Đạt, Vơ Tuấn Chấn, Đàm Trung Phán và một số thân hữu lập ra làm chỗ vui đùa cũng như trao đổi một số thông tin về một số vấn đề có tính chất thời sự. Hoài đứng ra khoản đăi tại một nhà hàng đồ biển trong vùng Little Saigon. Chúng tôi đă tán chuyện thật vui với nhau. Trong câu chuyện chúng tôi đă nhắc đến một nhân vật nữ mà nhiều anh em ưa thích. Tôi c̣n nhớ loáng thoáng (không rơ có phải là v́ chất bia làm trí nhớ loăng đi chăng?!) có ai đó trong chúng tôi đă nói: "Nếu được dắt tay nàng đi trong chiều gió lộng ở Pasadena chỉ để nghe giọng êm nhẹ như nhung của nàng th́ cũng đă đủ lắm rồi!..." Hoài là một cựu CVA trung niên, hoạt động trong lănh vực khoa học nhưng là một tay "thở" ra văn chương, thi phú, nhất là loại văn chương, thi phú "rùng ḿnh". Anh Trần Văn Lương cũng hoạt động nghề nghiệp trong lănh vực nghiên cứu khoa học như Hoài, và c̣n là một tay hết sức văn nghệ: anh làm thơ tiếng Hán, viết lời và phổ nhạc. Những bài thơ tiếng Hán của anh được nhiều bạn trong nhóm bạn giao lưu trên mạng lưới điện tử ưa thích. Anh Lương cũng xuất thân con nhà vơ như Hoài, mà nhân dáng lại là của một tài tử màn bạc, khác hẳn chất bi trong thơ anh làm. Phạm Văn Bân là người đă dành nhiều công sức nghiên cứu về tiếng Hán, nhưng anh sinh sống chủ yếu bằng nghề kế toán và là một nhà kế toán hàng "lăo" (senior) cho một đại tổ hợp của Nhật ở Mỹ. Bân cũng là một vơ sư. Thành thử, trong bốn người có duyên gặp nhau vào bữa tối mà Vũ Xuân Hoài khoản đăi th́ cả bốn đều có vơ nghệ trong người (riêng vơ của kẻ này ở vào mức độ đủ để "tẩu vi thượng sách"). Tôi cũng đă có nhiều duyên lành với Vũ Trung Hiền và đă gặp anh tại nhà ở Pasadena. Anh có lúc là một thành viên khá xông xáo của mạng lưới điện tử tôi vừa đề cập ở trên. Tuy chỉ là một thành viên gần như đă qui ẩn của mạng lưới điện tử này, tôi rất cảm kích các bạn trong mạng đă dành cho tôi cơ hội và niềm vui gặp gỡ, tâm t́nh với một số bạn. Trước hôm về lại Toronto, tại nhà anh chị Hiền tôi gặp lại đầy đủ các anh Hoài, Lương, Bân, cùng một vài người bạn của gia đ́nh. Đúng là "hữu duyên thiên lư ắt... tương ngộ". Tôi đă nằm trên vơng trong vườn nhà Hiền (chẳng mấy khác một mảnh vườn ở quê nhà vùng Suối Lồ khi xưa), vừa nhâm nhi "bồ đào mỹ tửu" do chính Vũ Trung Hiền chế biến (rượu nho khai vị, mà vị giống như rượu nếp cẩm - vị ngon rất lạ) vừa nh́n cá vàng lội trong hồ, bên "thảo am" góc vườn nơi Duyên Anh đă lưu lại nhiều ngày với gia đ́nh Hiền. Tôi thấy Hiền là một người hạnh phúc. Chỉ tiếc là chiều tối 23/11/2002 hôm ấy tôi đă không ở lâu được để cùng chung vui với anh chị Hiền và các bạn Lương, Bân, Hoài, cùng các anh,chị mới gặp lần đầu như anh Kiều Vĩnh Phúc... Tôi cũng đă có may mắn bất ngờ gặp lại anh Vũ Đức Chang là người anh cả của Hiền, khi xưa có lúc là giám đốc nha tư thục của bộ quốc gia giáo dục VNCH. Tôi đă được gặp anh Chang vào khoảng giữa những năm 1960, khi từ Quảng Ngăi nghỉ phép về lại Sàig̣n, lại thăm anh Vũ Ngọc Châu, cũng là một người anh ruột của Vũ Trung Hiền. Hai anh Chang và Châu đều là những người có niềm tin tôn giáo mănh liệt. Gặp lại anh Vũ Đức Chang lần này tại nhà anh cũng ở Pasadena, không quá xa nhà của Vũ Trung Hiền, tuy anh đă lớn tuổi (có lẽ đă quá bát tuần), nhưng vẫn sinh hoạt tôn giáo tích cực. Ngồi gần anh tôi cảm thấy cái an toàn ngồi cạnh một người chăn dắt chiên lành. Cũng chiều hôm ấy, Đỗ Đ́nh Di đă tới nhà anh chị Hiền đón để gặp một số các bạn cùng một cấp lớp với tôi những năm đầu trung học ở Sàig̣n trước đây. Nhà của anh chị Di thuộc thành phố Burbank kế cận thành phố Pasadena của Vũ Trung Hiền. Nh́n Di tóc bạc phơi phới, nước da hồng hào, xuề xoà, vui vẻ, hiếu khách với các bạn làm tôi liên tuởng đến nhạc sĩ Văn Phụng. Chị Di trông không mấy khác những h́nh mà tôi đă được Di gởi cho những năm về trước. Tôi nh́n chị và thấy nếu có kẻ nào đó tưởng lầm chị (bà Đỗ Đ́nh Di thứ thiệt) là bà bé của Di thật cũng chẳng quá đáng!... Những buổi sáng hôm trước tôi đă gặp một số bạn trong nhóm này ở khu Phước Lộc Thọ, ngồi cà phê với nhau, truyện tṛ như bắp rang, mày tao và cả chửi thề hệt như trong sân trường dạo nào. Nhưng phải nói là tối hôm ở nhà Đỗ Đ́nh Di tôi đă hưởng những niềm vui trọn vẹn, nhất là khi gặp lại Nguyễn Đức Thuần với bà xă của Thuần là chị Phương vui nhộn; với vợ chồng Trần Văn Thám mà lúc nào tôi vẫn luôn nhớ, cùng với anh chị Bùi Vĩnh Hưng, anh chị Thiện - Thu, và một số các anh chị bạn khác. Nh́n vợ chồng Thám vui, hoạt tôi rất mừng. Cặp này đă trải qua nhiều sóng gió trong đời nhưng cuối cùng vẫn can đảm, vẫn vui sống, vẫn "thổ tả" tưng bừng. Bà xă Thám là cô bé Hoàng, em ruột của Trần Khắc Am - bạn thân của gia đ́nh chúng tôi những năm c̣n thơ. Thám đă "dấm" cô bé này khi cô bé c̣n mặc quần thủng đít. Với những bạn thân thuở thiếu thời mà tôi đă từng gặp mặt, chúng tôi ít phải đề pḥng những bất trắc như khi "chơi" với những người [anh em] giàu thủ đoạn trường đời (kể cả một số những người [anh em] đă từng học chung dưới mái những ngôi trường trung học). Tôi cũng đă gặp Lê Hữu Nghĩa, Vũ Kim Chi, Nguyễn Ngọc Thường, Nguyễn Hữu Thường, Vũ Khang, Trần Tiến Phúc, Trương Minh Triết, Vơ Hùng Anh (từ Pháp qua dự đám tang của ông cụ thân sinh ra anh), và nhiều bạn khác nữa... Thời c̣n học trung học, và sau này khi đă ra đời, khi c̣n tại VN, tôi có lư do để tin tưởng là nhiều bạn học cũ sẽ nắm những trọng trách trong nhiều ngành hoạt động khác nhau, và chắc chắn không anh nào phải đạp xích lô (cụ tổng giám thị Phan Trọng Kiên, đă có lần run giọng với chúng tôi: "Những đứa này đứa nào không chịu học th́... đạp xích lô tuốt!!!"). Sau 30 tháng tư năm 1975, tôi đă thấy một vài bạn học cũ phải đạp xích lô trên đường phố Sàig̣n sau khi đi tù về; một đôi người bạn đă từng giữ những chức vụ lớn trong chánh quyền VNCH trước khi VNCH bị khai tử). Đúng là "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi" chẳng phải khách má hồng mà cũng lắm truân chuyên!
Buổi sáng ngồi cà phê, tán gẫu rôm rả ở Phước Lộc Thọ xong, các bạn đă kéo đi ăn sáng. Cũng lần đầu tiên sau nhiều năm đến Bắc Mỹ tôi được thưởng thức trở lại hương vị của Phở Tàu Bay - Ngă Bảy Sàig̣n (cũng thoáng thấy hương vị Phở Tàu Bay ngày xưa). Trong số các bạn có những bạn có lẽ đến gần nửa thế kỷ mới gặp lại nhau như Nguyễn Hữu Khang, và người gặp lại trong thời gian ngắn nhất là Lê Hữu Nghĩa th́ cũng đă 14 năm (từ 1988 khi c̣n ở VN). Với Lê Hữu Nghiă tôi cũng đă có rất nhiều kỷ niệm, từ lần gặp Lê Hữu Nghĩa ở Quảng Ngăi sau trận B́nh Giả (lúc ấy Nghĩa mới là thiếu úy thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến), và đặc biệt là những kỷ niệm khi Nghĩa c̣n là trưởng ty quan thuế G̣ Dầu, Tây Ninh. Hiện nay tôi vẫn c̣n giữ trong nhà một chiếc chén ăn cơm của Nhật mà Nghĩa đă tặng khi tôi có dịp lên G̣ Dầu với Nghĩa (Nghĩa đă tặng nguyên một lố) vào năm 1971. Đêm trước ngày xuống nhà Đỗ Đ́nh Di ở Burbank, tôi đă gặp mặt một số bạn cựu CVA - TL khác ở nhà Vũ Khang. Đêm Khang đăi tiệc các bạn cũng là ngày giỗ của Đào Giang Hải, một bạn rất thân của tôi những năm đầu trung học. Hải đă mất trong một phi vụ hành quân. Tôi đă thật may mắn gặp lại chị Hải (chị Ninh - cũng là chị ruột của Vũ Khang) và cháu Hoàng - con của Hải và Ninh, cùng các cháu con của cháu Hoàng. Trước bàn thờ, vái lễ Hải, và nắm tay cháu Hoàng cùng các con của cháu, tôi cảm nhận được gịng sống ấm áp của một trong những bạn thân nhất của ḿnh đang tiếp tục trên Bắc Mỹ này. Khi viết những gịng này tôi vừa biết ơn vừa thấy nỗi thương cảm chất ngất những phụ nữ VN đă gặp quá nhiều thử thách trong đời, trong đó có những người đă là vợ những người bạn hết sức tốt lành của chúng tôi.
Xuống Nam Cali. tôi cũng đă gặp lại cụ bà thân mẫu ông anh rể của tôi nay đă 98 tuổi, và thầy dạy cũ tại trường Trần Lục xưa là thầy Vũ Văn Toàn. Hai vị này cùng với hai bạn thân khi tôi ở trong quân đội (Trần Văn Phương, cựu cảnh sát trưởng Pleiku [1968-?] và cựu trung tá Phạm Bá Mạo, sĩ quan không quân phụ trách an ninh tại phi trường Pleiku [196?-1975]) là những người tôi cần gặp trong chuyến đi này. Cụ thân mẫu của anh rể tôi là một bậc đạo hạnh. Niềm tin tôn giáo đă giúp cụ sống tuổi già êm đềm bên con, cháu hiếu hạnh. Thầy Toàn đă ngoại bát tuần nhưng vẫn c̣n rất minh mẫn. Thầy là tấm gương về đời sống mẫu mực, và cũng là h́nh ảnh điển h́nh của một tín đồ Công Giáo luôn tin tưởng ở mọi sự d́u dắt, hướng dẫn, an bài của Đấng Toàn Năng. Thầy am tường nhiều về văn hoá cổ, kim, Đông, Tây, nhưng Thầy luôn đứng về phiá những giá trị tinh thần truyền thống. Đứng trong sân nhà của Thầy Cô vùng Fountain Valley, trên thảm cỏ xanh, bên bức tường hoa giấy rực nắng, cạnh cây cam sai trái bên Hang Đá, và chụp những bức h́nh lưu niệm với Thầy Cô cùng với Lê Hữu Nghĩa và Bùi Vĩnh Hưng bên những non bộ của gia đ́nh, tôi thấy Thầy Cô thật hạnh phúc. Vào những phút giây yếu ḷng, tâm hồn chùng xuống, tôi thường gọi điện thoại thăm Thầy. Thật ra là nhờ được nói chuyện với Thầy, tôi cảm thấy được an ủi, cảm thấy mạnh hơn để có thể tiếp tục những ngày chưa thật an b́nh của riêng ḿnh.
Với hai người bạn tôi thật sự cần gặp trong chuyến đi này, Phương là một cựu học sinh CVA. Trong nhiều lần liên lạc trước đây tôi biết Phương bị đau và đă chịu nhiều lần giải phẫu, nay không ngờ bạn tôi vẫn c̣n khả năng lái xe trên xa lộ vào ban ngày, và mừng nhất là gia đ́nh êm ấm, các cháu đều học hành đến nơi đến chốn. Như anh cho biết: sau vài năm đến Mỹ (từ 75) anh đă bị đau, phải giải phẫu nhiều lần, và chị là người duy nhất trong gia đ́nh phải gồng gánh, lo toan mọi chuyện. Sống trong khung cảnh gia đ́nh của anh chị, tôi thấy chị Phương là một phụ nữ Miền Nam thật giỏi, thật đảm và chị đă chịu đựng mọi vất vả hy sinh cho gia đ́nh đến giờ phút này, luôn sống như lời kết ước trong thánh lễ hôn phối nhiều năm trước đây. Tôi thành thật cảm phục chị. Thật không dễ dàng ǵ đối với một phụ nữ c̣n khá trẻ, c̣n nhan sắc, c̣n nhiều cơ hội bay nhảy, lại là người có quyền điều hành trong một tổ hợp quản trị tương đối lớn ở Mỹ mà vẫn toàn tâm, toàn ư với gia đ́nh, nhất là khi người chồng bị đau yếu, suy sụp trong nhiều năm. Phạm Bá Mạo cũng đă phải thay khớp đầu gối và lúc này đi lại c̣n đôi phần khó khăn. Anh đă bị kẹt lại VN sau 75, bị tù hàng chục năm, và cũng chỉ mới đến Mỹ theo diện H.O. một vài năm gần đây. Nhưng anh cũng là một trong số những H.O. đă gặp nhiều may mắn: con cái tất cả đều thành đạt.
Tôi cũng gặp lại giáo sư kiêm vơ sư Phan Quỳnh - một cựu CVA - khi anh từ San Diego lái xe lên nhà Trần Văn Phương hội ngộ. Gặp nhau lần này vừa mừng, vừa bồi hồi. Tôi quen anh khi đến vơ đường Hoa Lư của môn phái Vovinam (Việt Vơ Đạo) trước 1975 để thăm Trần Huy Phong, bạn cùng lớp ở CVA, và là vơ sư trụ tŕ tại vơ đường này. Sau 75 tôi thường gặp Quỳnh nhiều lần, bên một quán cà phê “cái-nồi-ngồi-trên-cái-cốc” dưới một gốc me trên đường Gia Long, gần thư viện Gia Long cũ. Tôi cũng đă có may mắn liên lạc lại được với Phan Quỳnh từ ngày mới đặt chân tới Canada, và được biết anh vẫn sinh hoạt tích cực với môn phái. Trong bốn anh em chúng tôi gặp nhau tại nhà Trần Văn Phương trong vùng Corona (anh Vũ Hữu San kẹt xe trên xa lộ và lạc đường không đến được) vào chiều tối 22/11/2002 th́ Phan Quỳnh là vị đẹp lăo, phong độ hơn cả. Da mặt anh tươi nhuận không một nếp nhăn, tóc bạc mịn, đi đứng khoan thai, vững vàng, và nói năng ôn tồn, chậm răi. Khi đùa nắn vai và lưng anh tôi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng thấy các bắp thịt săn chắc như ở những thanh niên cường tráng, mới ngoài đôi mươi, đang văn ôn, vơ luyện; cái săn chắc ở Phan Quỳnh là cái săn chắc của người có luyện nội công.
Ngày hôm sau hai anh Trần Văn Phương và Phạm Bá Mạo chở tôi đến những băi biển nổi tiếng trong vùng: Dana Point, Laguna Beach, New Port Beach. Phương bảo: "Để ông nhớ đến bờ Thái B́nh Dương mù tắp nơi quê nhà". Tôi đi dọc những băi biễn thật đẹp, nh́n những khách sạn sang trọng nằm chót vót sau lưng, nh́n hàng ngàn du thuyền san sát nhau trong vịnh, vào thăm một hội quán tư trong vùng, dơi theo những người chơi surfing phía dưới mà ḷng bỗng quặn đau. Tôi nhớ đến chuyến vượt biên bất thành năm 1982, và nhớ lúc về lại Sàig̣n gặp Trần Văn Thám trên đường Nguyễn Huệ, ngơ ngác như vừa mới từ trại giam ra. Tôi bỗng liên tưởng đến những bài thơ của nhiều người làm thơ và dễ dàng nhận ra "chất sống" và cả "chất giả" trong nhiều bài thơ khác nhau ấy. Những kẻ không sống thật không thể nào gây được những xúc động mănh liệt trong ḷng người! Viết đến đây, nhớ lại tất cả những người tôi đă gặp trong chuyến đi vừa qua, tôi chỉ biết thầm cám ơn Đấng Toàn Năng đă ban cho tôi ân huệ được chiêm ngưỡng những kỳ quan của Người: những người thân cùng những bạn bè, bằng hữu, cả những người mà chúng ta ít nhất đă một lần gặp mặt trong đời, những người đă đem đến hạnh phúc cũng như những đau khổ, những người đă an ủi ḿnh và cả những người đă đặt cho ḿnh những thử thách gắt gao. Tôi bỗng như nh́n thấy tất cả những người mà ḿnh quen biết ở thành phố Sàig̣n nhộn nhịp xưa, và xa xôi hơn nữa: ở Huế, ở Hà-Nội, ở những thành phố nhỏ như Nam Định, Quảng Ngăi, Vĩnh Long... trên quê hương mù tắp của tôi. Tôi thấy một mối t́nh chung nối tất cả chúng tôi lại với nhau. Tôi nguyện mong tất cả chúng ta, nhất là những người bạn cũ, cách riêng là những người bạn của một thời trung học luôn t́m đến nhau, hỗ trợ nhau, an ủi nhau trong những sóng gió, bấn loạn của thời đại nhất là đối với nhiều bạn trong chúng ta từ khi ra đời đă gặp nhiều cảnh ngộ bất thường, đă phải đương đầu với biết bao toan tính, hành vi hiểm ác của không hiếm kẻ dữ trong đời.
Nhân Mùa Giáng Sinh và Năm Mới này xin gởi đến toàn thể quí bậc trưởng thượng, quí thân hữu, cùng toàn thể các bạn xa gần lời nguyện chúc "B́nh An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm".

SẦU ĐÔNG.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved