Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Người Tân Định là bút danh của Nguyễn Quốc Hùng [xem Thơ Đường]. Ông và bà Nguyễn Quốc Hùng là hai khách hàng vô cùng quư mến của Voyages Saigon. Đọc “Người mê phở nói chuyện phở” mới nh́n thấy rơ hai mặt tương phản ở tác giả: ông là người rất nghiêm túc, đồng thời cũng là người có đầu óc vô cùng trào phúng, với một tâm hồn vừa thi vị vừa thực tế.
Xin giới thiệu với độc giả bài viết thứ hai của ông.
SALADE EsPRESSO.


NGƯỜI MÊ PHỞ NÓI CHUYỆN PHỞ

Cả hơn tuần nay tôi ể ḿnh, không có ra ngoài. Hồi sáng thấy trong người khỏe lại, chợt thèm phở cách ǵ.
Nhắc đến phở là đúng băng tần của tôi rồi, bởi v́ tôi có rất nhiều kỷ niệm riêng tư về phở với ông bô của tôi, kể hoài không hết. Nay đă về hưu, và ông bô tôi cũng đă leo lên bàn thờ ăn xôi nghe kèn từ hơn 30 năm nay rồi, nhưng mỗi lần ăn phở đều ít nhiều nghĩ đến ông bô tôi.
Mặc dù xuất thân "Cao Cẳng Sư Cụ Đông Dương", ông bô tôi vẫn thuộc loại thầy giáo thủ cựu, đạt tiêu chuẩn "thứ nhất hay chữ, thứ nh́ dữ đ̣n", mà tôi lại là con trai đầu ḷng - cậu cả con bà hai, loại "con đợi con chờ, con cầu con khẩn" - nên được ổng cưng lắm, mà càng cưng lại càng chết... cha tui! Ổng o ép tôi từ cái học đến cái ăn, muốn nhào nặn tôi thành một "bản sao" của ổng. Về cái học th́ thỉnh thoảng ổng lại múa roi mây, bắt chia “vẹc bờ” các “tăng” các “mốt”, lạng quạng là ổng lôi tôi ra "uưnh biểu diễn" cho đám học tṛ của ổng coi chơi, uưnh đến nỗi không lớn được, thành thử bây giờ vóc vạc nhỏ thó. Về cái ăn th́ ổng ăn cái ǵ, tôi phải ăn cái đó, ổng ăn kiểu ǵ tôi phải ăn kiểu đó.
Riêng về phở th́ gần hết một đời, tôi vẫn chưa thấy ai mê phở như ông bô tôi. Đối với ổng, ăn phở không phải để ăn cho no, mà để ăn cho... sướng! Hồi 1954 trở về trước ở Hà Nội, thành phố bé bằng cái bàn tay, không tiệm phở nào mà ổng không dẫn tôi tới ăn thử, để chọn những chỗ ngon nhất theo cái "gu" của ổng. Ổng chê phở Cửa Nam là nước không trong, bánh không mỏng, không dai, nhất là ổng cực lực đả kích món phở tái sách của tiệm này. Theo ổng, phở th́ phải là phở ḅ, và là phở chín, thịt mới thơm, c̣n tái th́ có mùi gây của thịt ḅ sống, làm mất mùi phở, đồng thời thịt sống làm nước phở "đục như nước cống", ăn phở tái là không biết ăn phở(!). Ổng cũng thích nhậu sách ḅ lắm chớ có phải không đâu, nhưng phải là sách chấm tương gừng, ăn với húng giũi thôi, không thể cho vào phở được. Ổng chê phở Cửa Nam thua xa phở Cầu Gỗ. Ổng có thể ăn phở sáng-trưa-chiều-tối-khuya, từ sớm tinh mơ đến tối mịt mờ khuya lắc khuya lơ, bất cứ lúc nào, và có thể ăn ngày này sang tháng khác. Ổng coi phở như một món ăn chơi, thích lúc nào th́ ăn lúc nấy, ăn lấy hương lấy hoa thôi. Một phần cũng v́ bát phở (từ ngày vô Nam tôi mới quen kêu bằng tô phở) Hà Nội thời đó nhỏ xíu, ít xỉn, nông toẹt - tiếng văn chương kêu bằng "thanh cảnh " - tuổi thiếu niên trổ gị của tôi hồi đó th́ chỉ húp ba bốn húp là tiêu bát phở! Chả là phở gánh Hà Nội ngày xưa không ăn bằng th́a (muỗng), chỉ có đũa để gắp, và... kê miệng húp!
Ông bô tôi chọn phở chứ không chọn chỗ, ổng chịu nhất là gánh phở cố định ở Phố Hàng Vôi, khúc gần Ấu Trĩ Viên hồi đó (bây giờ chả biết đă được xây khách sạn hoặc công ty ǵ nữa). Ăn phở gánh Hàng Vôi vào giờ đi làm buổi sáng th́ phải xếp hàng, rồi tự kéo ghế đẩu ngồi ăn ngay trên vỉa hè. Nghỉ hè, ổng chấm thi chấm cử xong, thường đưa tôi ra băi biển Đồ Sơn, ô tô ca (xe đ̣) đi ngang Hải Dương th́ mua bánh đậu xanh Rồng Vàng, để ghé Hải Pḥng, sau khi ăn phở Hợp Lợi ở Phố Cát Dài (h́nh như số nhà 215 th́ phải, lâu quá quên mất tiêu) th́ dùng làm món tráng miệng. Tiệm phở Hợp Lợi này c̣n nổi tiếng về các món phở xào ḍn, xào mềm, cũng như phở áp chảo khô, áp chảo nước. Hóa nên từ nhỏ xíu tôi đă lây cái bệnh mê phở của ông bô tôi, nhưng không mê đến nỗi quá khích như ổng. Ổng đả kích các loại phở "biến tấu" như phở gà, phở sốt vang... cho rằng "phở th́ phải là phở ḅ". Tôi cũng có thể ăn phở bất cứ lúc nào đói bụng, và có thể ăn mỗi ngày mà không chán. Thậm chí hồi nhỏ xin tiền ăn phở vào buổi chiều, bà bô không cho, bắt ăn cơm, nhiều lần tôi phải giả vờ ốm (bịnh) để đ̣i ăn phở.
Chả biết ở Sài G̣n trước 1954 có tiệm phở không, chỉ biết là từ sau 1954 th́ nhiều tiệm phở Bắc mới theo nhau mọc lên, và cha con tôi ngày ngày đi "duyệt" từng tiệm, nghe nói tiệm nào mới mở là tới ăn thử. Ông bô tôi chịu nhất là tiệm phở xập xệ mang tên "Phở Số 1" trên đường Phan Thanh Giản cũ (nay là Điện Biên Phủ), ngay kế đường rầy xe lửa. Ông chủ tiệm thấy ông bô tôi vào là phải trụng bánh ba bốn lần cho thật kỹ, để khi chan nước dùng (nước lèo) th́ nước mới không bị đục, bởi v́ ổng không chỉ ăn phở, mà ổng c̣n nh́n phở nữa. Bánh phở phải trắng tươi như bạch ngọc, c̣n nước phở phải vàng óng, trong suốt như hổ phách! Ổng c̣n kÿ nước béo, hồi đó ai mà biết cô-lét-tê-rôn là cái quái ǵ, chỉ v́, như ổng nói, tô phở nước béo "trông thô bỉ lắm"! C̣n nấu phở mà cho củ cải vào thùng nước lèo th́ ổng bảo là "bố láo bố lếu". Về sau tiệm này dọn về Tân Định gần nhà tôi, trên đường Hai Bà Trưng, gần ngă tư xéo Yên Đổ - Trần Quang Khải, rồi sau lại dọn đi nơi khác. Mặc dầu "chịu đèn" tiệm này, ổng vẫn chê là con ḅ Miền Nam không ngon (ngay cả phở Hà Nội ngày xưa, muốn ngon th́ phải nấu với ḅ nuôi ở tỉnh Phú Thọ cơ), nước dùng không đậm đà, bánh phở Sài G̣n làm không đúng cách, không được mỏng, được dai, mà cứ bở bờ bờ, rau mùi (ng̣) Sài G̣n không thơm v.v...
Phở Sài G̣n sau 1954 không c̣n là phở Bắc thuần túy nữa, tô phở lớn hơn, đa dạng hơn. Phở Tàu Bay ở đường Lư Thái Tổ, gần khu Bắc Hải của dân Bắc Kỳ Công Giáo di cư, là một trong những tiệm sớm sủa, rất đông khách, giá rẻ, tô bự, lại c̣n có loại "tô xe lửa" nữa. Ông bô tôi chê phở Tàu Bay là nước đục, bánh đă dày lại bở, chỉ được cái rẻ. Khi ăn th́ cho đủ thứ rau thơm, về sau lại có giá sống, giá trụng, ăn với cả tương đen của Tàu. Ổng thù cái món tương đen này lắm, nói là khiến phở biến thành... mùi Tàu. Thấy thực khách chăm chú "sửa soạn" tô phở, vắt chanh, ngắt đủ loại rau thơm bỏ vô, cho giá vô, rồi c̣n trộn đều lên trước khi ăn, ổng bảo "đúng là cơm heo". Phở Bắc ngày xưa chỉ ăn với hành tây và rau mùi (ng̣), c̣n rau quế, tức húng quế th́ chỉ ăn với thịt chó hoặc tiết canh và ḷng lợn (chấm mắm tôm chanh ớt), cho nên ngoài Bắc mới gọi rau húng quế là húng chó hoặc húng tiết canh.
Theo ông bô tôi, điểm dị biệt nhất giữa món Tàu và món Ta là món Ta thường ăn với các loại rau thơm, c̣n món Tàu không kèm rau thơm. Món Ta th́ món nào ăn với rau thơm nấy, tuyệt đối không thể lẫn lộn được. Cho nên ngửi mùi rau tía tô th́ tự nhiên thấy thèm các món ốc, ếch, ba ba (cua đinh); ngửi mùi rau kinh giới th́ nghĩ đến bún riêu; nh́n thấy rau th́a là th́ thèm chả cá, ngửi mùi rau húng giũi th́ thèm sách ḅ, vó ḅ, bê thui, ḅ thui (đều chấm tương gừng) v.v... Nay nếu bỏ hầm bà làng các loại rau thơm vào phở th́... “chả c̣n ra cái quái ǵ nữa!”
Sau khi tôi - cái "bản sao" của ổng - vô trường Học Đại Sư Cụ Sài G̣n, không c̣n trong ṿng o ép của ổng nữa, th́ tính chất "bản sao" trong tôi phai nhạt dần, tự nhiên tôi thích ăn phở kiểu Sài G̣n, giá sống, rau thơm ǵ cũng cân tuốt, rau dấp cá, ng̣ om, húng chó, ngổ ba lá... làm ráo nạo, có điều là cho đến nay vẫn không thích ăn phở tái, và càng không thể xịt tương đen vô phở! Tôi không được rơ t́nh h́nh phở Hà Nội sau năm 1954 ra sao, nhưng sau 1975, nhiều người ở Hà Nội vào kể rằng giai đoạn khó khăn lúc trước th́ chỉ có phở quốc doanh với món "phở không người lái". Phải xếp hàng, mua phiếu, như kiểu các cửa hàng ăn uống quốc doanh ở Sài G̣n sau 1975 vậy. "Phở không người lái" tức là phở không có thịt, chỉ có bánh phở và nước phở nấu bằng xương ḅ. V́ nước phở quá nhạt nhẽo do ít xương ḅ, nên nhiều người đi ăn phở không người lái đă phải đem theo lọ "ḿ chính" (bột ngọt - âm Quảng Đông của "vị tinh"), rắc một chút vào bát phở để đánh lừa khẩu vị. Thảm đến thế là cùng! Chính v́ vậy, đến nay dân Hà Nội vẫn c̣n thói quen ăn nhiều bột ngọt, và c̣n có câu thành ngữ tân thời: “Đắt như ḿ chính thời bao cấp”.
V́ mê phở, nên tôi thích t́m hiểu t́nh h́nh phở. Chưa bao giờ Sài G̣n mọc thêm nhiều quán phở, tiệm phở lớn nhỏ như hiện nay, hầu như đường phố nào, hang cùng ngơ hẻm nào cũng có, chưa kể các xe phở cố định và lưu động. C̣n ở Hà Nội th́ báo chí cho biết, Hà Nội cũng đang ở vào thời kỳ "bung ra" của phở. Mới đây ở Hà Nội có ông giáo sư Lê Văn Lan đă vận dụng "phương pháp lịch sử" (?) để nói về các giai đoạn tiến hóa của phở, và c̣n làm một bản "thống kê phở" nữa. Theo ông, sự tiến hóa này đă trải qua “4 bước”. Bước thứ nhất là giai đoạn "Hà Nội hóa" từ đầu thế kỷ 20, khiến phở trở thành một đặc sản của Hà Nội, và các tỉnh khác ở Miền Bắc nấu phở th́ cũng nấu theo kiểu Hà Nội. Thứ nh́ là giai đoạn phát triển “cổ điển”, gồm những năm trong 2 thập kỷ 40-50. Có lẽ đây là loại phở cổ điển theo "gu" của ông bô tôi chăng? Thứ ba là giai đoạn "mậu dịch", những năm 60-70. Thứ tư là giai đoạn “bung ra” từ những năm 80 đến nay. Ông giáo sư này có vẻ có lư, nhưng chia giai đoạn tṛn trịa, cứng ngắc như thế có chỗ không ổn, thiếu tính... khoa học, v́ trong thập kỷ 50 th́ trước và sau 1954 khác nhau một trời một vực. Mặt khác, theo nhiều người, giai đoạn gần đây nhất - từ thời đổi mới đến nay, tức là từ 1990 - có lẽ nên gọi là giai đoạn “phục hưng” của phở. Ở Hà Nội, vào những năm cuối của thời “phở mậu dịch”, phở có bán ở quán ăn tầng trệt khách sạn Phú Gia, cạnh Bờ Hồ. Bây giờ th́ cái quán ấy đă thành “rét-tô-răng” mà không c̣n món phở nữa. Phở Hà Nội có lúc đă tiêu điều, song bây giờ có thể nói phở Hà Nội đă sống lại, và đang “bung ra”... theo nhiều nghĩa.

Về “thống kê phở" th́ ông giáo sư Lan cho biết, theo những ǵ người ta nghiên cứu được ở Hà Nội, phở đă có cả 100 tuổi. Phở là món ăn do người Việt chế ra, hay du nhập từ Trung Quốc? Câu trả lời đă rơ ràng: phở là món ăn hoàn toàn Việt Nam, v́ nếu từ Trung Quốc th́ tại sao giờ này Trung Quốc không có món phở? C̣n phở đă gần tṛn, đă tṛn, hay đă hơn 100 tuổi, th́ chẳng ai khẳng định được chắc chắn và rơ ràng, mà có lẽ cũng chẳng có ǵ quan trọng lắm. Điều quan trọng là phở đă như một cây cổ thụ, bắt rễ, đâm chồi, lan tỏa sâu vào (bộ đồ) ḷng người, đă khẳng định được vị trí độc nhất vô nhị của nó trong nền văn hóa ẩm thực của người Việt cả trong lẫn ngoài nước. Đến nay ít nhất cũng đă có vài công tŕnh khảo sát, nghiên cứu rất "nghiêm túc" về phở, dưới "góc độ lịch sử và văn hóa” như của Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, hay dưới "góc độ khoa học kỹ thuật” của Bộ môn Công nghệ Chế biến Trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội. Theo thống kê trong sách vở báo chí ở Hà Nội hiện nay th́ tài liệu nhiều nhất đă kê được 17 món phở, gồm phở chín, phở tái, phở gầu, phở sụn, phở sách, phở xá xíu, phở gà, phở gà xào, phở xào mềm tim gan, phở xào ḍn tim gan, phở ḅ xào ḍn, phở gà xào ḍn, phở áp chảo nước, phở áp chảo khô, phở sốt vang v.v... và cả phở chua. Thống kê này quả là có giá trị, song h́nh như vẫn chưa thấy đủ so với thực tế phở ở Hà Nội bây giờ. Ít ra cũng thiếu mất vài món, mà dù chưa được thừa nhận chính thức, vẫn có nhiều người thích ăn, như phở mọc, phở thập cẩm... Ông bô tôi đă ăn xôi nghe kèn từ cuối thập kỷ 60, nếu ổng c̣n sống th́ sẽ bảo là trong 17 món phở đó, ngoài phở ḅ chín, c̣n 16 món kia là "bố láo bố lếu" hết. Phở ḅ cho tới nay vẫn là “phở căn bản” trong hầm bà lằng các món phở hiện hành. Phần lớn các quán phở nổi danh trong hàng ngũ “Hà Thành đệ nhất... phở” bây giờ cũng vẫn là các quán phở ḅ!
Một ông kư giả cho biết, cái cảnh xếp hàng vốn ám ảnh người dân Hà Nội mấy chục năm của thời bao cấp, đến nay chưa hết hẳn. Buổi sáng cỡ 8-9 giờ, đi qua các phố Bát Đàn, Tôn Đức Thắng, Lư Quốc Sư... người ta vẫn thấy cảnh xếp hàng rồng rắn để ăn phở, nhưng ngày nay người ta xếp hàng với một ư nghĩa và tâm t́nh khác hẳn. Phở phố Lư Quốc Sư th́ sáng nào cũng có một ông dáng chừng là nhà doanh nghiệp quốc doanh bự, ăn mặc rất xịn, đầu chải láng mướt, c̣m lê cà vạt chỉnh tề, tay lăm lăm điện thoại di động từ xe Toyota Camri đời mới bước xuống, cũng đứng xếp hàng kiên nhẫn chờ đến lượt. Thời buổi này thời giờ là tiền bạc, thế mà mất cả mấy chục phút chỉ để chờ ăn một bát phở cho bằng được th́ thật là sang và... gàn!
Nghe nói một trong những quán phở loại ngon nhất của Hà Nội hiện nay là phở Bát Đàn. Phở Lư Quốc Sư c̣n gọi là “Phở Bà Ngọc”, v́ bà Ngọc làm “kỹ thuật viên” chính, cũng ngon ngang ngửa với phở Bát Đàn. Phở Hàng Muối cũng ngon, tuy món thịt chín hơi cứng hơn một chút. Phở "tái lăn" ngon nhất có lẽ là ở Phở Th́n Ḷ Đúc, nước dùng đậm đà, hơi béo do thịt xào lăn, song không ngấy. C̣n Phở Hàng Bột (phố này giờ đă đổi tên thành Tôn Đức Thắng, song người ta vẫn quen gọi tên phố cũ) có món “bửu bối” là phở sốt vang, nhuộm ra đỏ cả bánh phở. Tuy nhiên, các món phở tái trần, tái lăn, chín... đều ngon. Đặc biệt hơn nữa là cô bán hàng, h́nh như chửa... chồng, rất xinh đẹp, trắng trẻo, mắt sắc như dao cau, và lúc nào cũng trang điểm rất kỹ càng như sắp đi nhảy đầm, mặc đồ đầm ngồi làm phở mới kiêu chứ, v́ cô rất ít cười. Phở gà nổi tiếng có quán ở Phố Nam Ngư. Bà chủ quán hơi đồng bóng, song phở rất ngon. Ngày xưa, ông Nguyễn Tuân đă từng sợ rồi người ta sẽ làm "phở hộp" th́ không c̣n là phở. Bây giờ th́ chưa thấy phở đóng hộp, mà mới chỉ có “phở ăn liền” của Công ty Vifon, sấy khô cho vào gói, có bột nêm, như ḿ ăn liền vậy, và tất nhiên là... không người lái. Khỏi phải nói, thứ này th́ đúng là "chả ra cái quái ǵ cả”.
Tôi th́ không đến nỗi thủ cựu và quá khích như ông bô tôi, nhưng tôi cho rằng phải "chính danh", v́ đă kêu bằng phở th́ phải là... phở, nghĩa là có mùi phở, vị phở, và chỉ là phở ḅ. C̣n nếu cứ đem bánh phở - vốn chỉ là bột gạo - trộn với đủ món biến tấu sau này như thịt gà, tim gan, đồ ḷng, sốt vang v.v... th́ "cưỡng dâm" cái tên phở quá, mà nên gọi là hủ tíu ḅ kho, hủ tíu xào đồ ḷng, hủ tíu gà v.v... v́ hủ tíu là sợi bột (âm Quảng của từ ngữ Hán "khỏa điều"), sợi bột th́ muốn xào nấu với ǵ chả được. Nếu không th́ bún ốc, bún riêu... cũng có thể gọi là phở ốc, phở cua... hay sao? C̣n những loại phở khác ở Hà Nội hiện nay như phở tim gan, phở mọc, phở thập cẩm... nói ở trên, th́ xin lỗi, "bố láo bố lếu" hết!
Tuy nhiên, trong thời kỳ "bung ra" của phở từ Nam chí Bắc hiện nay, h́nh như các món phở xào và phở áp chảo đă thất truyền. Hồi sau 1954, Sài G̣n cũng có xuất hiện mấy món này, sau đó th́ một thời gian tiệm phở 79 ở đường Vơ Tánh, gần Ngă Sáu Sài G̣n cũng có mấy món này, nhưng không phải là tay chuyên môn làm, nên ít khách kêu, rồi dẹp luôn, v́ hồi đó người muốn ăn phở xào, phở áp chảo, chỉ là thành phần Bắc Kỳ di cư, tức Bê 54 như gia đ́nh tôi chẳng hạn. Ông bô tôi cũng thích ăn mấy món này, ngoài tiệm không có th́ bà bô tôi làm ở nhà cho ổng ăn đỡ vậy. Phở áp chảo hay phở xào th́ cũng gồm 2 thành phần chính, là bánh phở và "người lái". Quan sát bà bô tôi làm th́ bánh phở tươi mua về từng lá, phải xắt to bản, loại bánh rờ vô thấy dẻo và ráo tay, không dính tay, không thoa dầu (mùi dầu khiến phở bị hôi dầu). Phở xào th́ có xào mềm và xào ḍn. phở áp chảo th́ có áp chảo khô, áp chảo nước. Nếu làm phở xào mềm th́ sau khi xắt, bánh phở được gỡ tơi ra, rắc một tí muối, trộn đều, bỏ bánh vào chảo dầu thật nóng, tải mỏng ra, đảo nhanh tay cho bánh khỏi cháy. Khi sợi bánh săn lại th́ rắc hành hoa (phần trắng của cọng hành lá) xắt nhỏ, đổ ra đĩa, rồi mới xào "người lái" đổ lên. Bánh phở xào ḍn th́ phải rắc đều bột năng vào bánh phở, rũ cho tơi, không sợi nào dính sợi nào, rồi cho vào chảo dầu nóng, lật qua lật lại cho vỏ ḍn th́ lấy ra đĩa ngay, rồi đổ "người lái" lên. Phở áp chảo khô hay áo chảo nước th́ cũng theo cách tương tự, chỉ khác là thời gian áp bánh phở vô chảo lâu hay mau thôi, áp chảo nước th́ áp mau, áp chảo khô th́ áp lâu. Áp chảo khô th́ ăn khô, c̣n áp chảo nước th́ vẫn phải chan nước dùng như phở nước vậy. "Người lái" là thịt ḅ phi-lê xắt mỏng, to bản, xào với cần tây, cà rốt, cà chua, gừng...
Gần đây, với thời "bung ra" và "phục hưng" của phở, th́ phở xào và áp chảo đă thấy xuất hiện ở vài tiệm như phở Bắc Hải ở đường Nguyễn Du Q.1, phở B́nh ở đường Lư Chính Thắng (Yên Đổ cũ) Q.3, phở Dũng ở đường Trường Sơn (đường mới mở ở khu Tân Sơn Nhất, Tân B́nh). Mấy anh già Bê 54 bao năm không được ăn phở xào, phở áp chảo, rủ nhau đi ăn ở tiệm được nghe đồn ngon nhất, là phở Bắc Hải Nguyễn Du (phải gọi như vậy để phân biệt với hàng loạt phở Bắc Hải mọc lên ở một số đường phố khác). Đặc điểm của tiệm này là đầu bếp và phục vụ (chạy bàn) đều là đàn ông, và bán với giá hữu nghị, 20 ngàn một đĩa ăn no. Tôi cũng đă ăn thử, nhưng tôi vẫn không t́m lại được hương vị phở xào và phở áp chảo ngày xưa ở Hà Nội nữa, một phần do phở ngày nay biến tấu búa xua, phần v́ chính cái gu của ḿnh có thể đă thay đổi từ hồi nào mà chính ḿnh cũng khó nhận ra.
Ăn phở - và ăn nhậu nói chung - mà chỉ có một ḿnh cũng buồn, sáng sớm tôi xách cái xế độp băng qua Cầu Kiệu, đến hú một anh già ở khu Cư xá Nguyễn Cư Trinh, ngă tư Phú Nhuận, tính rủ qua phở Quyền bên kia ngă tư cháp một tô, nhưng anh già ghiền phở này vốn ham của lạ, chuyên sưu tầm cái mới, lại rủ đến ăn ở một gánh phở lề đường, và nói là chỉ mới xuất hiện ít lâu ở gần Hồ tắm Chi Lăng, anh già c̣n quảng cáo là gánh phở này có mùi Hà Nội cũ. Tôi ô-kê cấp kỳ, v́ như đă từng thú nhận, hễ tôi biết tiệm phở, quán phở, gánh phở nào mới xuất hiện là sẵn sàng đi thực tế ngay. Ông bán phở tuổi mới khoảng ngũ tuần, góa vợ, là dân Ô Chợ Dừa, Hà Nội, nhập cư Sài G̣n mới được ít tháng, cho biết là ông ta bán phở gánh ở Ô Chợ Dừa cả chục năm nay, kể từ sau ngày đổi mới, nhưng đă đánh liều dẫn cô con gái duy nhất vô Sài G̣n, và khoe rằng ổng đă quyết định đúng, v́ một tuần bán ở Sài G̣n kiếm bằng cả tháng ở Ô Chợ Dừa. Quả thật, mới sáng ra mà gánh phở của ổng đă đông khách, cô con gái xinh xắn tuổi mới đôi mươi phụ việc cho bố như trần bánh, chan nước lèo, bưng phở cho khách... Ổng vừa xắt thịt, rắc hành... vừa tṛ chuyện với anh già bạn tôi. Ổng mơ ước sau một thời gian cần kiệm dành dụm, sẽ mở một quán phở nhỏ, và nhất định sẽ giữ vị đặc trưng phở Hà Nội. Sau này th́ không biết sao, chớ hiện giờ th́ phở của ổng tuy không ngon lắm - có lẽ tôi đă quá xa cái vị phở Hà Nội của gần 50 năm trước, mà chỉ c̣n quá quen với phở Sài G̣n - nhưng quả là phở của ổng có khác phở Sài G̣n, ít nhất là về mặt... h́nh thức, tức là không có giá sống, không có rau thơm linh tinh, không có tương đỏ tương đen, mà chỉ có ớt trái, hành tây và rau ng̣. Khách phải ăn đứng nếu vài cái ghế đẩu quanh gốc cây lớn đă có người ngồi, và dù đứng hay ngồi th́ cũng một tay bưng tô, một tay cầm đũa v́ không có bàn, và phải kê tô vô miệng mà húp v́ không có muỗng. Nhưng vừa ăn vừa ngẫm nghĩ th́ vị phở cũng thanh, không gây, không ngán.
Theo thông lệ, tôi là người đề xuất chuyện ăn phở th́ tôi phải trả tiền. Để đáp lại, anh già kéo tôi về nhà ảnh, chiêu đăi một cữ càphê cổ điển “cái nồi ngồi trên cái cốc”, kèm vài điếu Ba Số mà lai rai chuyện phở. Anh bạn này của tôi sính thơ lắm, đi đến đâu là thơ thẩn rơi văi rông rổng đến đó, nhưng toàn là thơ của thiên hạ không hà. Sáng ra có tô phở đấm mơm Ông Thần Khẩu, thấy đời lên hương, ảnh bèn ư ử ngâm hai câu thơ sặc mùi phở:
Hương thơm trinh nữ? Ồ không phải!
Hương phở thơm đầy những sớm mai...
Ǵ chứ thơ với thẩn là tôi kÿ nhất, v́ hổng khoái, hoặc... hổng biết khoái thơ cao cấp bí hiểm, mà chỉ khoái thơ diễu, thơ cà chớn, đọc lên là nó đi vào tận củ tỉ! Thành thử hai câu thơ này nghe qua giọng điệu th́ cũng có vẻ đường được, có vẻ thơ lắm, nhưng nghĩ lại th́ có cái lấn cấn, bất ổn. "Hương phở thơm đầy những sớm mai" th́ được quá rồi, nhưng mà cứ như giấy trắng mực đen th́ làm sao lại có thể lẫn lộn "hương thơm trinh nữ" với mùi... phở được nhỉ? Anh già chỉ cười mỉm chi cọp, chê tôi ngu! Mà tôi ngu thật! Măi sau mới chợt hiểu ra, con gái nhà hàng phở th́ người ngợm thơm mùi phở chứ sao, cũng như cô hàng càphê th́ thơm mùi càphê, cô hàng nhang th́ thơm mùi nhang, cô hàng mắm th́ thơm mùi... mắm ấy mà. Vậy th́ cô gái Bắc Kỳ xinh xắn tuổi đôi mươi, con ông hàng phở hồi năy, không phải là có cái "hương thơm trinh nữ" quyện với cái "hương phở thơm đầy những sớm mai" hay sao! Anh già này ghê thật! Hèn ǵ cứ rủ tôi đến gánh phở đó cho bằng được, bỏ cả phở Quyền mà tôi với ảnh vẫn thỉnh thoảng tới ăn từ cả mấy chục năm nay. Hiểu ra như thế, tôi lại cảm thấy... yêu hai câu thơ này mới chết chứ, bèn hỏi là thơ của ai. Ảnh thú thật là không biết, nhưng lại tḥng một câu: "H́nh như của... Tản Đà!" Tôi giăy nảy lên tức th́. Cái giọng điệu đó rơ ràng là thơ sau này, không thể là thơ của thời tiền bán thế kỷ 20 được. Ngoài ra, ǵ chớ về thơ Tản Đà, th́ ai chớ ảnh đừng có căi với tôi. Ngày xưa ông bô tôi có 2 cuốn Tản Đà Vận Văn, Tập 1 và Tập 2, "c̣-lếch-xông" toàn bộ sự nghiệp thơ (văn vần) của Tản Đà, mà tôi từng đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Sách in giấy bổi vàng khè, nham nhám, chỉ có cái b́a là giấy cứng trắng trẻo, ở giữa trang b́a của cả 2 cuốn đều có h́nh vẽ một người đàn ông gánh hai cái thúng, đang bước đi, đầu đội nón lá sụp xuống che cả mặt, bên dưới có hàng chữ "Gánh văn lên bán chợ trời". Từ lúc c̣n nhỏ xíu, tôi đă khoái cái h́nh vẽ đó rồi. Thành thử đừng có cái ǵ cũng... đổ lên đầu ông Tản Đà! Lại nữa, nói chuyện phở th́ ai chớ ảnh cũng đừng có ḥng căi với tôi, v́ tôi có cái tật là làm "c̣-lếch-xông" bất cứ chuyện ǵ liên quan đến phở, v́ tôi nghĩ, kẻ mê phở cũng nên rành chuyện phở, c̣n không th́ chẳng khác ǵ nhà văn mà... mù Văn học sử vậy!
Không phải chỉ riêng anh già bạn tôi nghĩ h́nh như hai câu thơ phở đó là của Tản Đà, mà thậm chí trước đây c̣n có kẻ tung ra giả thuyết cho là chính ông Tản Đà đă đem món phở của Miền Bắc vào Sài G̣n. Giả thuyết này dựa vào câu chuyện của những năm tháng Tản Đà cùng Ngô Tất Tố lang thang vào Nam Kỳ cộng tác với ông Diệp Văn Kỳ làm báo Đông Pháp Thời Báo. Có lần ông thần ngông kiêm con sâu rượu này từng chơi chữ: "Đất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười?" - đă cao hứng cạy gạch sân nhà, cuốc đất lên trồng húng giũi để ăn ḅ tái, bê thui, trồng húng quế để ăn tiết canh, thịt chó (cho nên ngoài Bắc mới gọi húng quế là húng tiết canh, hoặc húng chó)... Rồi một buổi chiều lạnh lẽo hiếm hoi của Sài G̣n, ông đă tự nấu phở để chiêu đăi bạn bè, ai ăn cũng khen ngon. Từ đó, món phở dần dần được phổ biến rộng răi! Yêu phở và yêu Tản Đà đến mức gán cho ông cái công lao đem phở từ Bắc vào Nam th́ cũng thông cảm được đi, v́ có người c̣n yêu phở như yêu người t́nh nữa ḱa. Khiếp lắm! Một nhà văn B75 lớn tuổi từng viết về "t́nh yêu phở" của ḿnh: "Những ngày trong ḷng buồn vui không rơ rệt, tự nhiên người ta lại thấy thèm một tô phở với ḷng dạ nôn nao, với cảm giác như nhớ người yêu đă hẹn mà nàng không đến". Ối dzời! Lại thêm một ông cột phở với đàn bà!
Thật ra, phở chỉ mới có mặt ở Sài G̣n từ thập kỷ 40, và chỉ gần đây người ta mới t́m ra một chứng nhân của Phở. Đó là bà cụ Trần Thị Năm, nay mới... ngoài 80 tuổi xuân, lưng c̣ng, tóc bạc phơ, ở số 63/5 trong Hẻm Pasteur, sau rạp hát Vinh Quang. Bà kể:
“Từ năm 1942, ông bác của tôi là cụ Kỉnh từ làng Vân Đ́nh (Hà Đông) vào Sài G̣n lập nghiệp. Ông bán gánh Phở Bắc trên đường Lagrandière (Gia Long cũ, nay là Lư Tự Trọng). Măi đến năm 1949 mới chuyển về đây mở xe phở, tôi c̣n nhớ lúc đó mỗi tô chỉ có 2 xu, tô đặc biệt 3 xu. Sau đó cụ Kỉnh truyền nghề cho cụ Minh, là anh ruột tôi. Thuở ấy phở Bắc không có giá sống và các loại rau lung tung như bây giờ, nhưng v́ khẩu vị của người Sài G̣n nên chúng tôi phải chiều theo”.
Ông An - con của cụ Minh - nay là chủ nhân Phở Minh, cho biết ngày xưa ở trong hẻm này có cả loạt quán phở mọc lên, nhưng nay chỉ c̣n một ḿnh gia đ́nh ông “trụ” lại được. Khoảng thập kỷ 1950, các văn nghệ sĩ, chính khách Miền Nam nườm nượp đến đây bất kể ngày đêm. Hồi đó ai mà không mê phở trong Hẻm Pasteur này. Trong số những thực khách, có lẽ ông Trần Rắc - chủ tiệm giầy trên đường Espagne (Lê Thánh Tông ngày nay) mới thật sự là người có tâm hồn thi sĩ nhất, không kết hợp thơ với... giầy, mà lại kết hợp thơ với phở. V́ khoái phở Minh mà ông đă sáng tác bài thơ tứ tuyệt tặng chủ quán để treo trong quán chơi:
Nô nức đồn vang khắp thị thành
Trần Minh phở Bắc đă lừng danh
Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn
Gia vị: tương, rau, ớt, mắm, chanh.
“Thơ Phở” như vậy cũng là đạt rồi, nhất là biểu lộ được cái tâm trạng yêu phở, mặc dù hơi có vẻ... quảng cáo tiếp thị!
Không hiểu ông bà khuất mặt khuất mày nào xui khiến mà tự dưng bữa nay tôi lại nổi hứng, nói nhiều về phở đến thế, chả c̣n nhiều giấy để nói về những món khác của một Sài G̣n ở vào đầu thiên niên kỷ mới. Hồi trước 1975, ở Sài G̣n có Câu đối phở của ông “thợ sắp chữ” Thầy Khóa Tư như vầy, ông này th́ chỉ là.... thợ sắp chữ thôi, chớ không có tâm hồn thi sĩ như ông chủ tiệm giầy:
Tái chín nạm gị vè, tiêu ớt rau thơm giá sống
Sách gầu gân mỡ sụn, tương chanh nước béo hành trần.
Ông này chắc phải là tín đồ của phở nên mới cảm khái mà sắp chữ như thế. Về mặt kỹ thuật th́ cũng được đi, nhưng về nội dung th́ có người chê phở này không phải là phở Bắc chính cống, v́ có cả giá sống, nhưng bớt quá khích một chút th́ hiểu đây là Phở Việt Nam, không c̣n phân biệt Nam hay Bắc nữa, v́ dân Bê75, Bê90, Bê2000 hay B ǵ đi nữa th́ vô Sài G̣n cũng ăn phở với giá sống như điên, c̣n xét về mặt lịch sử th́ câu đối này cũng có thể được coi là một bằng chứng "mang tính văn hóa" trong một giai đoạn lịch sử của phở vậy.
Thơ Phở và Câu đối Phở này cũng góp phần đưa phở vào văn học nước nhà, v́ trước kia mới chỉ có vài bài tiểu luận về phở của mấy ông nhà văn tiền chiến thôi, mà tôi kêu đại là "văn phở". Vũ Bằng, tác giả “Miếng Ngon Hà Nội” từng mô tả:
“Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở như thế mới ngon. Thịt th́ mềm, bánh th́ dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt. Thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm d́u dịu cái thơm của thịt ḅ tươi và mềm, rồi th́ ḥa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực…”
Nguyễn Tuân, tác giả “Vang Bóng Một Thời” th́ mô tả cảm giác về phở:
“Mùa nắng ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt lưng, thấy như giời quạt cho ḿnh. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt thắm tươi lại...”
C̣n "cây" truyện ngắn Thạch Lam th́ b́nh luận:
“Nếu là gánh phở ngon th́ nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu ḍn chứ không dai, chanh, ớt với hành tây đủ cả. Chả c̣n ǵ ngon hơn bát phở như thế nữa”.
Gần đây th́ một ông nhà văn nhà báo Hà Nội nhập cư Sài G̣n - cũng có cái tật cột phở vô đàn bà, thậm chí c̣n coi phở như vợ ḿnh - khi b́nh luận về phở cũng khẳng định phở ngon th́ nước phở phải trong:
“...Người thủy chung với phở bao giờ cũng muốn nh́n tô phở nước trong, giống như người đàn ông trung thành với vợ, chỉ muốn nh́n ngắm nàng trong nét đẹp chính chuyên, không son phấn. Phở cũng vậy. Chẳng có người sành điệu nào lại nỡ tàn nhẫn đến độ cho cả tương đen lẫn tương đỏ vào tô phở của ḿnh cả. Màu sắc ấy không phải là sắc màu cổ điển của tô phở đă định h́nh từ bao thập kỷ nay”.
Cung cách ăn phở th́ vẫn c̣n là vấn đề tranh căi, ăn thua quan niệm và khẩu vị của từng người. Một ông nhà văn Nam Kỳ là Trang Thế Hy th́ trong lúc nói chuyện phở với bạn bè, đă nghĩ sao nói vậy theo kiểu phổi ḅ ruột ngựa, phang một câu... dễ xa nhau:
“Tao là dân Nam Kỳ chánh gốc, vô quán phở, thấy tô phở nước trong khá đẹp, hấp dẫn, vậy mà có cha dzọng vô cục tương đen, ngó hết muốn ăn!”
Một số "phở gia" lại c̣n bàn rằng ăn phở th́ ăn vào thời điểm nào mới tuyệt ngon? Ăn lúc sáng sớm th́ đă đành là ngon rồi, hầu như đa số dân ḿnh thường ăn phở lúc sáng sớm, bắt đầu một ngày làm việc, coi như bữa ăn sáng, bữa lót ḷng. Nhưng có người lại cho rằng ngon nhất vẫn là lúc khuya khoắt "nửa đêm giờ Tư trống canh ba", thả bộ lang thang trên đường phố, bụng đói, là đà con nhạn trong men say lẫn buồn ngủ mà lơ mơ nhớ lại những phiền muộn trong ngày, những bất hạnh trong đời, lúc đó mà "chơi" một tô phở nóng thơm lừng th́ sẽ thấy tỉnh hẳn, tỉnh như cái con sáo sậu, để rồi lại thấy yêu đời như... thường lệ! Cũng v́ lư do đó mà trong cái phong trào ăn khuya - đang trở thành thói quen của dân Sài G̣n hiện nay - phở vẫn là món được chiếu cố đông đảo.
Nhà văn nhà báo người ta mới dám b́nh loạn linh tinh các cái như thế, chứ tôi đâu là cái thá ǵ, lại bất tài vô tướng, cho nên hổng dám bàn ẩu về cung cách ăn phở của người khác, quyền tự do của người ta mà, miễn sao người ta ăn thấy ngon th́ thôi, mặc kệ người ta, ḿnh cứ ăn theo cách của ḿnh, tại sao lại chỉ trích người ta, bắt người ta phải giống ḿnh? "Không ǵ quư hơn độc lập tự do" mà! Ông bô tôi ăn phở kiểu Bắc Kỳ cổ điển, cho nên từ lúc di cư năm 1954 cho đến lúc ăn phở.... cúng, không bao giờ ăn loại rau thơm nào khác rau mùi (ng̣) với lư do ng̣ là rau của phở, húng quế là của tiết canh và thịt cầy, húng giũi là của ḅ thui bê thui, kinh giới là của bún riêu, tía tô là của ốc ếch v.v... Đời tôi c̣n đỡ, chớ đời con tôi th́ rau ǵ tụi nó cũng "phang" tá lả, chả c̣n theo sách vở ǵ ráo trọi. Con gái lớn của tôi năm nay 41, tâm sự với tôi: "Tiệm phở nào không có ng̣ gai th́ đừng có ḥng con vô!". Nhiều lúc nghĩ cũng sợ là cha con tôi làm tủi vong linh ông cụ! Nhiều quán phở Sài G̣n bây giờ dọn ra đủ loại rau thơm, có nơi c̣n có cả rau xà lách nữa! Từ Bắc di cư vào Nam, phở đă nghiêm túc thực hiện nhuần nhuyễn câu tục ngữ “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”, chẳng những có đủ rau thơm các loại, kể cả rau dấp cá, ng̣ gai, ng̣ om (là những thứ rau của canh chua Miền Nam)... mà c̣n cả giá sống (của hủ tiếu) nữa, giống như mảnh đất Miền Nam rộng mở ṿng tay đón nhận dân nhập cư từ khắp miền đất nước, cũng như dễ dàng như đồng hóa mọi khác biệt văn hóa vậy.

Tuy nhiên đến nay vẫn c̣n một quán phở giữ đúng hương vị Bắc. Ấy là Phở Bà Dậu, người Nam Định, ở cuối Hẻm 288 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lư cũ). Giới sành ăn gọi là phở Cây Trứng Cá, v́ từ năm 1950, ở trước quán có một cây trứng cá lớn. Cách gọi tên dễ nhớ như vậy rất quen thuộc ở Sài G̣n - Ḿ Cây Nhăn, Ḿ Cây Gơ - chẳng hạn. Trải qua bao hưng phế tang thương, cây trứng cá không c̣n, bà Dậu cũng trở thành "người muôn năm cũ", con trai bà là ông B́nh nối nghiệp nhà, cho nên dù quán không có bảng hiệu, người ta cũng có thể gọi là phở Ông B́nh, hoặc phở Lâm cũng không sao, v́ anh chàng tên Lâm là người thâu tiền. Ở quán phở này, từ trước 1975 và đến cả bây giờ, người ta đă gặp khá nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, nhà thơ nhà văn nhà báo... Ở đây bánh phở sợi nhỏ, mềm nhưng không nát. Nước lèo đậm đà cái vị ngọt thanh, dịu, của xương và tủy ḅ hầm rục, chứ không phải của bột ngọt, của đường. Các loại thịt nạm, gầu, sụn, gân, gị, vè, nạc... đâu ra đó. Không có bất cứ loại rau ǵ kèm theo, chỉ có hành tây và những cọng hành trần.
Yếu tố hấp dẫn của bất cứ quán ăn nào cũng không chỉ là cách nấu món ăn, mà c̣n là cung cách phục vụ, hiểu ư khách. Hồi thời bao cấp, cửa hàng ăn uống c̣n là của nhà nước, từ anh chạy bàn đến cô thâu ngân bán phiếu đều là cán bộ, thực khách xếp hàng mua phiếu vô ăn bị coi như đi ăn xin, nay th́ lại quay 180 độ cái rẹt, trơ trẽn tôn xưng khách hàng là "thượng đế"! Nhưng ở quán phở Minh và phở Bà Dậu th́ khác, traœi bao vật đổi sao dời mà thời nào cũng vậy, khách chỉ đến quán vài lần là chủ quán biết ngay cái gu ra sao, và c̣n nhớ mặt. Sài G̣n hiện nay có cái nạn tốn tiền gửi xe khi đi ăn uống - nhiều khi gửi rồi mà vẫn mất xe như thường - nhưng nơi đây gửi xe không mất tiền, có người trông coi chu đáo. Nếu là khách quen th́ cứ việc lững thững bước vào, thong thả ngồi xuống ghế. Không cần lên tiếng gọi, chỉ sau khoảnh khắc, một tô phở đúng ư được ân cần bưng ra, đặt nhẹ nhàng ngay trước mặt, khói nghi ngút thơm điếc mũi. Người đến ăn tưởng ḿnh không phải đến quán, mà có cảm giác như ăn ở nhà người bạn thân vậy.
Cái gánh phở mới xuất hiện trên lề đường Chi Lăng Phú Nhuận nói ở đầu thư khiến tôi nghĩ đến những người ngày xưa từ Bắc vô Nam chỉ có gánh phở trên vai, mà rất tự tin rời bỏ quê nhà đi lập nghiệp. Một gánh phở dựng lên, rồi truyền nghề lại cho con, cho cháu. Và cũng chính nghề ấy đă tạo cho con cháu họ một hiện tại, một tương lai như ngày nay. Con cháu họ hôm nay học lên Đại học, du học ngoại quốc, đi khắp năm châu bốn biển cũng chỉ bắt đầu từ một gánh phở của ông cha. Chính ông Minh, ông An đă tự hào khi tâm sự với khách như thế. Chắc chắn c̣n có nhiều người bán phở cũng tự hào như thế.
Nhưng phở Ḥa th́ lại là trường hợp ngoại lệ - ngoại lệ đến cái độ tréo ngoe - v́ chủ phở Ḥa sau này lại là người Miền Nam, nhưng vẫn tự hào phở Ḥa của ḿnh mới là "phở Ḥa gin" (từ tiếng Pháp "origine" - nguyên chất, nguyên gốc). Số là khoảng những năm 1950, có một người Bắc di cư vào ở Xóm Mới (G̣ Vấp), tên là Hoánh, không rơ họ ǵ. Cứ vào lúc xế chiều, ông Hoánh đẩy xe phở đến vỉa hè Ngả tư Pasteur - Hiền Vương (Vơ Thị Sáu bây giờ), bày ra vài cái bàn và ghế đẩu, bán cho khách ăn tối, ăn khuya. Xe phở ấy có tiếng là ngon với nước lèo trong và ngọt, bánh phở mềm, có đủ loại thịt theo ư khách. Do đó, tuy là xe phở vỉa hè nhưng khách ăn rất đông, nhất là dân chơi khuya từ các hộp đêm, vũ trường ra thường coi xe phở ông Hoánh như điểm hẹn cuối cùng. Để khách dễ nhận diện mà t́m đến, ông Hoánh nghĩ là phải có một bảng hiệu nhỏ treo ở xe phở của ḿnh, nhưng không biết đặt tên ǵ cho dễ nghe, v́ cái tên Hoánh của ông nó kỳ cục quá, ông bèn chọn cái tên Ḥa, chẳng có liên quan ǵ tới ông, có thể chỉ v́ cái tên Ḥa nghe nó có vẻ... hiền ḥa mà thôi. Từ đó xe phở ông Hoánh có tên phở Ḥa. Theo lời kể của bà Cao Thị Xiêm, chủ tiệm phở Ḥa hiện nay, th́ công thức nấu phở từ xe phở Ḥa ông Hoánh đến phở Ḥa Pasteur ngày nay vẫn không có ǵ thay đổi. Chẳng những lưu truyền công thức, mà cả cái tên Ḥa cũng đứng vững cả nửa thế kỷ. Điều tréo cẳng ngỗng là bà Xiêm lại chẳng có họ hàng bà con hoặc dây mơ rễ má ǵ với ông Hoánh cả. Bà là dân Nam Kỳ rặt, quê ở Trà Vinh, c̣n ông Hoánh là dân Bắc Kỳ "ri cư". Nhưng duyên số lại sắp xếp bên cạnh xe phở ông Hoánh có xe nước mía ăn theo của ông Phan Anh Ngoạt - dượng của bà Xiêm. Khi đó vợ chồng cô và dượng của bà Xiêm ở Sài G̣n không có con, mới nhận đứa cháu gái tên Xiêm từ Trà Vinh lên làm con nuôi. Ông Hoánh bán phở được một thời gian th́ đổi nghề qua chạy xe, nuôi chim cút... và xe phở được chuyển sang cho ông Ngoạt. Ông Ngoạt vẫn giữ nguyên tên phở Ḥa, giữ nguyên cả cách nấu phở và khách hàng quen thuộc. Sau th́ ngày một khá giả, xe phở trở thành tiệm phở Ḥa đường Pasteur, đứa cháu gái làm con nuôi trở thành bà chủ. Sau 1975, ông Hoánh ra định cư ở nước ngoài, vợ chồng ông Ngoạt cũng ra người thiên cổ.
Trong cái ḍng hợp lưu Nam-Bắc ấy, không biết từ bao giờ phở Bắc đă biến thành phở Sài G̣n. Trước hết là sự thay đổi phẩm chất và mùi vị của nước lèo. Phở Bắc chính cống th́ nước lèo chỉ là nước hầm xương ḅ đă lóc hết thịt, hớt bọt rất kỹ. C̣n nước lèo của phở Sài G̣n thường cũng được hầm từ xương ḅ, nhưng lại bỏ thêm tai vị, tôm khô, mực khô, nhiều nơi c̣n nện cả.... củ cải vô! V́ thế phở Bắc thường hơi gây gây mùi ḅ, c̣n phở Sài G̣n thường bị gia vị phụ lấn mùi. Nhưng phở Ḥa th́ khác, không Bắc rặt mà cũng chẳng lai Nam, mà là phở Việt Nam. Bà Xiêm cho biết phở Ḥa không được hầm từ xương, mà từ mỡ, tủy, và gân bao quanh các tảng thịt (mà bà gọi là "da tái"), và cũng được hớt bọt rất kỹ. Vị ngọt của nước lèo phở Ḥa là thứ ngọt thanh, không c̣n gây mùi ḅ. Một số thực khách, kể cả du khách ngoại quốc, vào tiệm có khi chỉ cần ăn phở "không người lái" (không có thịt) là đủ. Ngoài cái ngọt của nước, cái mềm của thịt, và nhất là mùi thơm của cả nước lèo lẫn các loại thịt chín, phở Ḥa ngày nay c̣n quyến rủ người ăn bởi ưu điểm sạch sẽ, đầy đủ rau, giá, tương, ớt, nhất là tác phong chiều khách của các nhân viên phục vụ. Yêu cầu của khách được đáp ứng rất nhanh. Muốn ăn tái, chín, gầu, gị, vè, sách, nạm, gân... đều có đủ. Người ăn cũng có thiện cảm với những lát chanh mọng nước xắt khéo, những khoanh ớt tươi đầy ụ trên đĩa do chính bà chủ cầm dao xắt hằng ngày. Chính cái mùi thơm, cái vị ngọt mềm thâm niên trên 40 năm trong nghề phở ấy đă tạo nên một sự nghiệp vững vàng. Cái nồi phở liu riu hằng ngày ấy đă nuôi sống, rồi làm giàu cho một gia đ́nh gồm vợ chồng với 6 đứa con (4 trai, 2 gái) nay đều thành đạt. Một cậu đă ra trường là Kỹ sư Điện tử, 2 cậu đang học Công nghệ Thông tin ở Úc, một cậu đang học Đại học Bách Khoa, 2 cô con gái đang học Nghiệp vụ Du lịch.
Kể từ khi đất nước đổi mới, phở Ḥa càng đông khách nhờ người dân Sài G̣n bắt đầu kiếm ra tiền, cuộc sống ngày càng khá hơn, Sài G̣n cũng ngày càng xuất hiện nhiều du khách ngoại quốc hơn, chính quyền thành phố thấy có ăn, bèn đ̣i... liên doanh với phở Ḥa, bà Xiêm cũng thấy liên doanh là có lợi cho cả đôi bên, cho nên giờ đây phở Ḥa đă trở thành một doanh nghiệp liên doanh nhỏ với 20 nhân viên, công nhân, và đă trở thành địa chỉ ẩm thực quan trọng trong các cẩm nang du lịch của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... đồng thời c̣n được giới thiệu trên các báo chí ở Mỹ, Úc... Cô Phương Châu - Kế toán viên của Công ty Cổ phần Du lịch Quận 3, là đơn vị nhà nước liên doanh với phở Ḥa - cho biết, hằng ngày có đến 600-700 thực khách đến với phở Ḥa, trong đó có nhiều khách nước ngoài. Phở Ḥa đóng thuế cho nhà nước 25-26 triệu đồng mỗi tháng, con số không nhỏ. Tên “Ḥa” cũng được "đăng kư sở hữu công nghiệp" để chống cạnh tranh không lành mạnh, chống kiểu "hàng dỏm, hàng nhái" đang xuất hiện lia chia trên thị trường hiện nay. Lư do là cách nay khá lâu, trên một số tờ báo ở Sài G̣n có một dạo đăng quảng cáo “Phở Ḥa đă dời về đường An Dương Vương, gần chợ An Đông”, báo hại khách đến phở Ḥa ăn đều hỏi tới tấp, hóa ra phở Ḥa An Đông là phở Ḥa dỏm, không phải là phở Ḥa Pasteur. Mặc dầu đă "đăng kư thương hiệu", nhưng bà Xiêm cũng chẳng kiện tụng ǵ - vô phước đáo tụng đ́nh mà - cứ để thực khách làm "quan ṭa". Một tiệm phở khác mở kế cận phở Ḥa lấy tên là phở Hoa (không có dấu huyền). Nhưng chỉ thời gian ngắn, thực khách đă phân biệt Ḥa thật với Ḥa dỏm, Ḥa nhái! Hai tiệm phở dỏm và nhái đó ế ẩm, phải dẹp tiệm! Chuyện ăn uống th́ trăm người trăm ư. Không phải ai cũng khen phở Ḥa, nhất là những thực khách gốc Bắc vào Sài G̣n sau này, vốn chỉ quen với phở Bắc, nhưng hầu hết giới sành ăn ở Sài G̣n trước 75 - nhiều người từng ăn phở Ḥa từ lúc c̣n là xe phở vỉa hè, nay tuổi hạc đă cao - vẫn là những thực khách trung thành.
Dù bà Xiêm có kiện phở Ḥa dỏm ở Sài G̣n th́ cũng khó ḷng kiện được phở Ḥa dỏm ở nhiều nước hải ngoại, mà ra hải ngoại để mở phở Ḥa Thiệt, bà cũng chẳng ham. Cùng với mấy triệu người Việt sống ở hải ngoại, mùi phở VN dần dần bay xa khỏi biên giới đất nước. Đă có nhiều Việt kiều từ Mỹ, Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc... gửi lời mời với lương bổng, lợi tức hấp dẫn để bà Xiêm qua nấu phở, nhưng bà từ chối. Cũng có người hỏi, sao không mở rộng kinh doanh phở Ḥa ra thành một hệ thống gồm nhiều chi nhánh như Phở 2000 chẳng hạn, bà Xiêm cho rằng phải biết lượng sức ḿnh, thành công của phở Ḥa nhờ ở phẩm chất, nếu mở ra nhiều địa điểm sẽ không có người trông coi, phẩm chất kém đi sẽ mất uy tín, vả lại căn tiệm bề thế hiện nay - có thể gọi là "Nhà hàng phở " - phục vụ một lần tới 150 thực khách là đă "quá đạt yêu cầu" của bà rồi, bà không quá tham lam, lại đă lớn tuổi, con cái đều thành đạt, bà không ước mong trở thành đại phú. Trong khi bà chủ phở Ḥa “chánh hiệu Bà Lang Trọc” trên đường Pasteur bằng ḷng với cái tiệm phở duy nhất ở Sài G̣n có tới 600-700 lượt khách mỗi ngày của ḿnh và phát triển dưới h́nh thức liên doanh với nhà nước, th́ bà không thể biết hiện nay trên đất Mỹ và các nước khác trên thế giới có bao nhiêu tiệm phở, lư do dễ hiểu là các tiệm phở ấy không hề có liên hệ bà con thân thuộc ǵ với bà, có chăng là cùng họ Hồng Bàng. Trên thực tế, tất cả những tiệm phở Ḥa hải ngoại đều là phở Ḥa dỏm, cũng như những tên gọi phở Công Lư, phở Hiền Vương, phở Pasteur... ở hải ngoại chỉ được dùng để đánh vào ḷng hoài niệm của kẻ tha hương.
Tất nhiên là về t́nh h́nh phở hải ngoại th́ tôi mù rồi, nhưng may là ngày nay nước ta văn minh tiến bộ lắm, ngon lành lắm, nhiều tờ báo có phóng viên thường trực ở nhiều nước trên thế giới - đến cả cái nước Áp-Gha-Nít-Tăng ở măi tận hóc bà tó kia mà cũng có phóng viên VN ăn dầm ở dề để hằng ngày gởi tin tức bài vở về nước nữa là - cho nên tôi cũng như đông đảo dân Sài G̣n ngày càng được biết nhiều về sinh hoạt của người Việt hải ngoại, kể cả những chuyện khó tin nhưng có thật. Chẳng hạn một bài báo kể rằng ở Cali có ông Y sĩ tốt nghiệp Đại học Y khoa Cali đă bỏ nghề cứu nhơn độ thế để mở tiệm phở, bây giờ có đến 5 tiệm lớn, kiếm tiền c̣n bộn hơn nghề y sĩ nhiều. Có điều, bề thế nhất vẫn là hệ thống phở Ḥa ở Mỹ. Hồi năm 1999 là thời điểm phở tại Việt Nam khủng hoảng v́ cơn sốt phọt-môn, th́ bên ngoài Việt Nam, phở đă vươn về tới Á Châu, đến tận Hán Thành. Rồi một nhà báo Sài G̣n đi dự SEA Games 19 ở Indonesia, lang thang các đường phố thủ đô Jakarta, đă bất ngờ gặp cái bảng hiệu phở Ḥa ở một tiệm phở. Chủ quán phở người Indonesia cho biết đă học nấu phở từ một tiệm phở Ḥa ở California. Về Jakarta mở tiệm phở, ông ta đă trương bảng hiệu tiếng Việt, chỉ v́ yêu món ăn VN này và muốn giới thiệu với đồng bào của ông, chớ đào đâu ra khách người Việt ở Jakarta! Hương Cảng cũng có một tiệm phở mà ông chủ là ...người Tàu chưa từng đặt chân đến VN v.v... Trong khi bà chủ phở Ḥa Pasteur chẳng thiết đem cái thương hiệu của ḿnh ra kinh doanh thêm để trở thành đại phú, cũng chẳng thưa kiện ai, th́ phở Ḥa (dỏm) ở Mỹ đang bành trướng để hốt bạc. Phóng viên VN ở California gửi bài viết về Sài G̣n cho biết, từ năm 1983, quán phở Ḥa đầu tiên mở tại San Jose, đến năm 1995, Công ty Aureflam - sở hữu chủ thương hiệu phở Ḥa tại California và phở Công Lư tại Texas - đă mở cả thảy 41 tiệm phở tại Mỹ, Gia Nă Đại, Đại Hàn... trong đó phở Công Lư có 5 tiệm. Người mở tiệm phở, muốn lấy thương hiệu phở Ḥa hay phở Công Lư th́ phải trả tiền tác quyền 12.500 USD... Ôi, đă chôm thương hiệu của người ta để hốt bạc túi bụi, rồi c̣n đem bán lại búa xua như vậy, sao mà khéo kinh doanh thế không biết!
Cuối cùng th́ phở Ḥa Pasteur vẫn không sợ hệ thống dây chuyền Phở 2000 của ông Việt kiều Mỹ Huỳnh Trung Tấn cạnh tranh, mặc dầu hệ thống này được tổ chức kinh doanh theo kiểu Mỹ, có những địa điểm tốt, những cơ sở bề thế. Bởi v́ tôi cũng như nhiều dân ghiền phở ở Sài G̣n đều "nhất trí cao" với nhận xét của một kư giả nào đó, rằng Phở 2000 chỉ là "phở cao giá" mà không phải là "phở cao cấp", dành cho những kẻ dư tiền, muốn "tự khẳng định", chớ chưa chắc đă là những địa điểm thu hút người sành phở.
Hồi cuối năm 2000 th́ ông Tổng thống Mỹ Lin-Tơn đă đến với phở Sài G̣n. Rời phố đồ cổ vào lúc 11g45 phút trưa, cha con ông Lin Tơn vào tiệm "Phở 2000" tại Cửa Tây Chợ Bến Thành, ở số 1 và 3 đường Phan Chu Trinh. Tất nhiên là trong chuyến đi của ông, từ một chi tiết nhỏ cũng được sắp xếp trước, và chính quyền thành phố chọn món phở cho ông thưởng thức là rất đáng hoan nghênh. Ở Hà Nội đă bị xem kịch Tây, vào Sài G̣n mà lại bị chiêu đăi bít-tết hay bánh bi-dzà th́ thảm lắm! C̣n tại sao Phở 2000 được chọn, th́ lư do rất giản dị - đây là tiệm phở lớn nhất, sạch nhất, văn minh nhất Sài G̣n, chứ chưa hẳn là ngon nhất. Tôi mới chỉ vô ăn phở ở tiệm này được 2 lần, phần v́ xa nhà, đường phố khu trung tâm lại kẹt xe thường xuyên, phần v́ phở ở đây cũng chẳng có ǵ thật xuất sắc, không phân biệt được với những tiệm phở ngon khác, giá tiền lại mắc hơn chút đỉnh, nói tóm lại là Phở 2000 chưa "tự khẳng định" được. Tôi là tín đồ đạo Phở, mê phở từ lúc chưa mọc răng. Bà bô tôi kể lại rằng hồi tôi được 7-8 tháng, cho ăn bột mà rất lười ăn, nhưng một lần ông bô tôi gọi phở gánh đi ngang cửa nhà ở đường Hiền Vương (phố Montgrand cũ) Hà Nội, tự nhiên bà bô tôi nảy ra sáng kiến là ḥa thêm chút nước phở vô bát bột rồi xúc cho tôi ăn, thế là thằng bé cứ há mồm ra mà ăn lấy ăn để. Lớn lên, tôi giống ông bô tôi ở chỗ chọn phở, không chọn tiệm, bởi thế bố con tôi mới sáng sáng cất công từ đường Hiền Vương, gần hồ Thuyền Quang (Hồ Halais) ṃ lên tận phố Hàng Vôi để đứng sắp hàng ăn phở gánh Hàng Vôi ngoài vỉa hè, gần Ấu Trĩ Viên Hà Nội. Với Sài G̣n hôm nay, Phở 2000 th́ sang nhất rồi, đẹp nhất rồi, sạch nhất rồi, cách sắp xếp, tổ chức cũng nhất, cái ǵ cũng nhất, kể cả trẻ nhất, nhưng phở th́ chưa ngon nhất. Tiệm chưa "tự khẳng định" được, chỉ có khách vô Phở 2000 là để "tự khẳng định", v́ toàn là dân sang, ngồi xế hộp, giá chót cũng cỡi Dream xịn, giắt theo điện thoại di động. Ăn Phở 2000 là "tự khẳng định" thành phần xă hội. Thành thử sắp xếp cho ông Lin-Tơn vô Phở 2000 cũng là đúng thôi, v́ Phở 2000 là "phở quư tộc", với nhà bếp sạch bóng, tổ chức kiểu Mỹ, nhân viên trên dưới đều mặc đồng phục đẹp mắt, nhân viên nhà bếp th́ ngoài đồng phục c̣n đội nón vải trắng tinh để bịt tóc v.v... Cách nay không lâu, hồi tiệm phở này mới khai trương, tôi đă có hẳn một chuyên đề phở báo cáo bạn hiền rồi, dịp này, cũng xin bổ sung chút đỉnh. Phở 2000 mới chỉ được thai nghén... t́nh cờ gần đây thôi. Người sáng lập là ông Huỳnh Trung Tấn, tuổi ngoài 40, cái tuổi đẹp nhất để lập sự nghiệp. Gia đ́nh ông Tấn qua Mỹ từ năm 1975, kinh doanh nhà hàng, và ông Tấn cũng là một trong những Việt kiều Mỹ trở lại VN sớm sủa nhất. Từ năm 1989 đến nay, ông đă lần lượt sáng lập nhiều nhà hàng lớn theo thể thức liên doanh ở Sài G̣n như Le Mekong, Vietnam House, Blue Ginger, Lemon Grass v.v... với mục đích là giới thiệu các món ăn VN với người ngoại quốc trong khung cảnh văn hóa VN. Ông Tấn kể rằng trên chiếc Boeing của Hàng không Tân Gia Ba cất cánh từ Cựu Kim Sơn (San Francisco) trong một lần trở lại VN, ông say sưa đọc cuốn hồi kư tựa đề Starbucks Coffee - mà cô em gái tặng ông ở phi trường San Francisco - nói về chuyện làm ăn của tác giả trong lănh vực mở quán càphê. Tự nhiên ông nghĩ rằng phải làm ăn theo kiểu Starbucks, như kiểu McDonald, Burger King, KFC, nghĩa là đi theo mô thức phát triển hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh, tức là làm franchise. Tôi đâu biết "phen-chai phen-lọ" là cái quái ǵ, nhưng kư giả Thục Đoan giải thích là "một công ty cho phép công ty khác sử dụng công nghệ và nhăn hiệu nổi tiếng của ḿnh để kinh doanh". Có điều khác ở chỗ, thức ăn nhanh ở đây không phải là ổ bánh ḿ Bưu Điện, mà là tô phở VN. Do đó ông Tấn quyết định thành lập "Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Phở 2000" với số vốn luật định là 500 triệu đồng VN. Mục tiêu ngắn hạn là sẽ mở 5 tiệm Phở 2000 tại Sài G̣n, một số tiệm ở Hà Nội, Hải Pḥng, Huế, Nha Trang... Hiện nay Phở 2000 đă đăng bộ độc quyền nhăn hiệu trong nước và ở nước ngoài. Dự trù là nay mai Phở 2000 sẽ có những tiệm đầu tiên ở Tân Gia Ba, Hương Cảng, và ở cả bên Mỹ nữa.

Một hệ thống phở tầm cỡ như thế mới xứng đáng đón tiếp cha con ông Lin-Tơn. Cha con vô tiệm th́ dân chúng lại tụ tập đón chờ bên ngoài, chờ ổng ăn xong đi ra để được... bắt tay! Trong đám đông có 3 thiếu nữ xinh tươi, bận đồ vía như ngày hội, là Nguyễn Kim Thanh, Nguyễn Kim Oanh, và Vũ Phương Lan, xôn xao bàn tán chỉ trỏ. Từ dưới đường, người ta có thể thấy rơ bố con ông Clinton ngồi ăn tại một cái bàn gần cửa sổ. Các cô cho biết từ 8g30 phút sáng đă đứng đợi ở phía Ṭa Đô Chánh cũ, v́ theo chương tŕnh Tổng thống Clinton sẽ ghé đây để gặp các nhà doanh nghiệp Mỹ gốc Việt, nhưng các cô không biết là buổi chiều mới đến mục đó. Cô Phương Lan xuưt xoa:
“Bọn em cố đến sớm, xếp hàng đầu tiên sát hàng rào, hy vọng sẽ được bắt tay... “Anh Bill” (?)”.
Ối dzời! "Anh Biu" đào hoa mà ở lại Sài G̣n ít ngày nữa th́ cô Phương Lan cũng như khối cô gái Sài G̣n khác sẵn sàng làm những "Monica made in Saigon" ngay thôi! Sau một tiếng đồng hồ ăn uống, anh Biu ra cảng Tân Thuận để gặp gỡ một số nhà doanh nghiệp Mỹ. Ngay sau khi ảnh đi khỏi, không khí tiệm Phở 2000 nhộn nhịp, tưng bừng quá cỡ, cứ là vui c̣n hơn Tết. Bà chủ Nancy Le (họ Lê) là Việt kiều Los Angeles, về làm ăn ở Sài G̣n từ 5 năm trước đây. Bà đă mở 2 tiệm phở, và Phở 2000 là tiệm thứ 3 mới mở được 1 năm. Phở của bà có đặc tính là nấu bằng nước lọc tinh khiết, các loại rau được rửa và sắp xếp từng lá một. Bà sung sướng khoe là ông Lin-Tơn đă ăn 2 tô phở - 1 tô chín và 1 tô phở gà không lấy da (đă được dặn ḍ trước) và khen ngon lắm, "gút" lắm. Ổng c̣n uống hết ly sinh tố xoài, ly cà phê sữa đá, và chai nước suối. Bà cho biết cà phê phải pha loăng và nhiều sữa, v́ cà phê kiểu VN rất "nặng" đối với người Mỹ. Bà hớn hở khoe tiếp:
“Chính tôi nấu phở cho ông ấy ăn!”
Cô Trương Thị Phương Hà, kế toán trưởng của tiệm, hứng phấn nói là sẽ giữ lại từ cái ghế ông Clinton đă ngồi, những cái tô, ly, muỗng nĩa, đũa ông đă sử dụng, để trưng bày trong một tủ kính. Cô hănh diện:
“Em sẽ đề nghị bà chủ viết hàng chữ là “Nơi đây Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đă đến ăn phở, và đây là những vật dụng Ngài đă dùng...”
C̣n cô Hoàng Kim Vân, 22 tuổi, tốt nghiệp Đại học Tin học Thành phố Nam Định, kiếm việc không ra, chỉ mới vào Sài G̣n làm tại tiệm phở này 3 ngày nên chưa có bảng tên, phải đeo bảng tên của cô Chi làm ca chiều. Cô nói cô là người may mắn nhất, v́ mới vào làm đă được bắt tay Tổng thống Mỹ! Cô tỏ vẻ xúc động:
“Sẽ chẳng bao giờ cháu được niềm vinh hạnh như vậy trong suốt đời cháu, dù là với vị nguyên thủ nước nào”.
Trên hai chục nhân viên trong tiệm đều vui sướng, măn nguyện, dù họ rất mệt mỏi v́ căng thẳng. Hơn 1 tiếng đồng hồ bố con ông Lin-Tơn ngồi trong tiệm đă tạo không khí căng thẳng, lo âu cho toàn thể nhân viên, v́ chỉ sợ có những sơ sót. Bà chủ cho biết đă tăng cường thêm người từ ca chiều lên, nên một số nhân viên phải làm việc liên tục 2 ca. Bà tỏ ra hào phóng:
“Tôi sẽ bồi dưỡng cho anh chị em nhân viên. Cả đời tôi biết bao giờ mới lại được đón tiếp một vị nguyên thủ Hoa Kỳ vào cửa tiệm của ḿnh”.
Thế là Phở 2000 đă đi vào lịch sử! Trong tương lai gần, ông Lin-Tơn có thèm phở th́ sẽ có thể ăn Phở 2000, biết đâu lại mở ở Nữu Ước, là nơi mà ổng mới mua nhà và bả có Văn pḥng Nghị Sĩ.
Làm một tô phở tỉnh người, rồi tán dóc về phở - nói theo kiểu văn chương báo chí Sài G̣n là "tản mạn phở" hoặc "một thoáng phở", rồi về viết một "lá thư phở" gởi bạn hiền, thấy con người hân hoan thơ thới ǵ đâu!

NGƯỜI TÂN ĐỊNH.

Thành thật xin lỗi quư độc giả về chất lượng kém của những tấm ảnh đăng dưới đây do chính tác giả gửi cho SALADE EsPRESSO. Theo thứ tự từ trên xuống dưới: 1. Xe phở. 2. Phở Lư Quốc Sư (Hà Nội). 3. Phở Bà Dậu trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lư cũ, Sài G̣n). 4. Phở Ḥa và bà Hai Xiêm (Sài G̣n). 5. Phở Minh và ông An (Sài G̣n). 6. Tiệm phở trong Quận 13 (Paris, Pháp). 7. Phở 2000 và ông Huỳnh Trung Tấn (Sài G̣n). 8. Tổng thống Mỹ Clinton tại Phở 2000 (Cửa Tây Chợ Bến Thành, Sài G̣n).

1

2

3

4

5

6

7

8

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved