Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Từ nhiều năm nay, anh Nguyễn Quốc Hùng là một khách hàng rất thân quen của Voyages Saigon. Phần đầu bài viết này đă giới thiệu khá đầy đủ về anh. Những người cùng thế hệ với anh biết đến những công tŕnh biên khảo của anh (về Văn hóa Trung Quốc nói chung và về Văn học cổ điển Trung Quốc nói riêng) cũng không phải là ít. Mọi lời giới thiệu thêm về anh chắc chắn sẽ dư thừa.
Trang SALADE EsPRESSO rất hân hạnh được giới thiệu với độc giả bài “Thơ Đường” dưới đây của anh Nguyễn Quốc Hùng.
Trần Chính.
(California, Jun 20, 2003)


THƠ ĐƯỜNG

Ông bà Nguyễn Quốc Hùng là thành viên Đoàn Trung Quốc mùa Thu 1999 và Đoàn Âu Châu Mùa Hè 2000. Mấy người trong đoàn thường gọi ông bà là “Cặp Sóng Thần”, không hiểu tại sao, và cũng không rơ ai là người đầu tiên đặt ra cái “hỗn danh” này.
Các sách của ông do Nhà sách Khai Trí (Sài G̣n) xuất bản và trưng bày riêng một tủ nhỏ, gồm Trung Quốc Toàn Sử, Lịch Sử Văn Hóa Trung Hoa, Lịch Sử Tiểu Thuyết Trung Hoa (mỗi cuốn 2 ngàn trang), Hồng Lâu Mộng, Kim B́nh Mai (mỗi bộ 3 ngàn trang), Thành Ngữ Cố Sự, và một số sách của Lâm Ngữ Đường. Riêng cuốn Hán Việt Tân Từ Điển, Khai Trí vừa mới in đầu năm 1974, sau này được chính quyền mới ở Sài G̣n tự ư in lại, trưng bày trong cuộc triển lăm sách ở khu Nhà Ga Sài G̣n cũ, và báo chí Sài G̣n sau đó khen ngợi, v́ tài liệu phong phú và phương pháp giải thích mới mẻ. Đến nay, vài tờ báo ở Sài G̣n, như tạp chí Kiến Thức Phổ Thông, vẫn thường trích dẫn. Riêng bản dịch Liêu Trai Chí Dị Toàn Tập, Từ Điển Chính Tả Việt Ngữ, và Từ Điển Nhân Vật Tam Quốc th́ chưa kịp in. Ngoài ra ông c̣n dịch trên 10 cuốn tiểu thuyết La Lan (Đài Loan) với bút hiệu Miêu Khả Khanh, nhà XB Chiêu Dương ở đường Nguyễn Cảnh Chân Q.1 xuất bản trước 1975. Đặc biệt ông có khoảng trên trăm bài dịch thơ Đường luật. Một số nhà xuất bản Việt ngữ ở Little Saigon đă in lại một số sách cũ của ông, bày bán khắp nơi từ hơn 20 năm qua.
Ông hiện định cư ở Canada, đă về hưu và hiện đang bệnh. Nhưng hưởng ứng Website của Voyages Saigon, ông có nhă ư gửi đến tất cả quư vị thành viên các Đoàn Trung Quốc vài bài dịch thơ Đường của ông.

Sắp đi hoặc đă đi Trung Quốc, xin mời thưởng thức Thơ Đường.


I. THƠ LƯ BẠCH
Nhắc đến thơ Đường, ai cũng nghĩ ngay đến Lư Bạch. Lư Bạch tự là Thái Bạch, quê ở huyện Xương Minh đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), không rơ năm sinh năm mất, chào đời ở làng Thanh Liên, cho nên c̣n lấy hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ, có thiên tài thơ văn. Nhà văn nhà thơ nổi tiếng đời Đường là Hạ Tri Chương gọi ông là “Trích Tiên” (ông tiên bị đày xuống hạ giới). Hạ Tri Chương tâu với vua Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), xin phong chức quan Hàn Lâm cho Lư Bạch, nhưng v́ tánh cao ngạo, ông bị quyền thần Cao Lực Sĩ và Dương Quư Phi ngăn cản. Từ đó Lư Bạch càng cao ngạo, nhưng lại được một hoàng thân là Vĩnh Vương, tên Lân, mời về phủ, cho giữ chức Liêu Tá. Lân khởi binh làm phản, Lư Bạch phải trốn về quê. Lân thua, bị giết, Quách Tử Nghi xin tha tội liên lụy cho Lư Bạch, chỉ băi bỏ quan chức. Đường Đại Tông lên ngôi, muốn triệu ông ra làm quan, nhưng lúc đó ông đă qua đời. Thơ Lư Bạch siêu phàm xuất chúng, người đời gọi ông là “Thi Tiên”. Ông cũng nghiện rượu, có rượu mới làm thơ được, người đời c̣n gọi ông là “Tửu Tiên”.
Không có tài liệu nào nói đầy đủ về tiểu sử Lư Bạch, cuốn Đường Thi Tam Bách Thủ nổi tiếng, do một danh sĩ đời Thanh là Hoành Đường Thoái Sĩ lựa chọn và chú giải, cũng chỉ cho biết ông tự là Thái Bạch, quê ở huyện Xương Minh, đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). V́ ông chào đời tại làng Thanh Liên, nên mới lấy hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ. Lư Bạch có ư thơ thanh cao, lời thơ tao nhă, thi nhân Hạ Tri Chương gọi ông là Trích Tiên (ông tiên bị đày xuống trần gian), rồi đề cử với vua Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng). Nhà vua phong ông làm quan Hàn Lâm, và rất yêu quư, kính trọng. Nhưng Lư Bạch là người phóng khoáng, cao ngạo, ghét kẻ xu nịnh. Có lần ông giả say, bắt quyền thần Cao Lực Sĩ cởi giầy. Cao Lực Sĩ ghét lắm, gièm pha với Dương Quư Phi. Huyền Tông muốn thăng chức cho Lư Bạch, nhưng Dương Quư Phi ngăn cản. Từ đó ông càng tỏ ra phóng túng, kiêu ngạo. Về sau Lư Bạch giữ một chức quan phụ tá trong phủ Vĩnh Vương Lân. Lân khởi binh làm phản, bị giết, Lư Bạch bỏ trốn về quê, rồi được triều đ́nh ân xá nhờ đại thần Quách Tử Nghi xin giùm. Đường Đại Tông lên ngôi, sai người đi kiếm ông về triều để giúp viết Thập Di Chiếu, nhưng lúc đó ông đă mất.
Tài liệu về Lư Bạch quá hiếm hoi và sơ sài, lại không thống nhất, nhưng giai thoại về ông th́ quá nhiều, và tất nhiên là mỗi người kể một khác, không có ǵ bảo đảm được bao nhiêu phần trăm chính xác, nhưng đều đem lại thích thú cho người nghe. Đại khái th́ Lư Bạch có thi tài đặc biệt, là người phóng khoáng, ghét bị g̣ bó. Ông lại ghiền rượu, chỉ khi uống rượu mới làm thơ, và thường ứng khẩu chứ ít khi viết ra, người xung quanh nghe được th́ đua nhau chép lại, tương truyền là có tới cả mấy ngàn bài, nhưng đă thất lạc gần hết. Thấy triều chính suy đồi, gian thần lộng quyền, ông cáo quan bằng cách cởi bỏ mũ áo, đặt trên thềm rồng mà bỏ đi, Đường Huyền Tông v́ yêu tài thơ của ông, mấy lần sai người t́m kiếm nhưng không thấy.
Một đêm trăng sáng, nhà vua cùng vài văn thần ngồi thuyền uống rượu, ngâm phong vịnh nguyệt trên sông, chợt nh́n lên bờ thấy một văn nhân đang ngồi uống rượu ngất ngưởng một ḿnh, nhà vua hỏi là ai, cận thần đáp là Lư Bạch, nhà vua bèn cho mời xuống thuyền uống rượu ngâm thơ, nhưng Lư Bạch từ chối, nói là nhà vua muốn uống rượu với ông th́ phải lên bờ. Trên một số độc b́nh, chén đĩa, chung trà của người Hoa và Việt Nam, cả đồ cổ lẫn đồ làm sau này, thường có bức tranh vẽ cảnh một người ngồi cạnh gốc cây ở bờ sông uống rượu, trên sông có chiếc thuyền với mấy người quần áo sang trọng, có người hướng lên bờ mà vẫy gọi, ở góc bức tranh có ghi hàng chữ Hán “Thiên tử hô lai bất thướng thuyền” (nhà vua gọi lại, nhưng không xuống thuyền), là do giai thoại này.
Biết Lư Bạch sống lang thang nghèo khổ, Huyền Tông ra lệnh cho các địa phương, Lư Bạch uống rượu ở quán nào th́ chủ quán cứ việc tính tiền với quan sở tại. Đến khi Huyền Tông có Dương Quư Phi, nhà vua cũng là một thi nhân nhưng cảm thấy ḿnh không đủ ư tứ, lời lẽ để ca ngợi vẻ đẹp của nàng, bèn sai người đi kiếm Lư Bạch. Các địa phương cho quan binh đi lùng kiếm Lư Bạch, nói là nhà vua triệu vào cung, ông không chịu đi, quan binh phải gạt ông bằng cách mời ông vào quán rượu, phục rượu cho ông thật say rồi khiêng vào cung. Thái giám cho uống nước giă rượu, nhà vua mời Dương Quư Phi ra cho Lư Bạch thấy mặt rồi bảo ông làm thơ. Ông bắt hai quyền thần là Cao Lực Sĩ phải cởi giầy cho ḿnh và Dương Quốc Trung (anh họ của Dương Quư Phi) phải mài mực, rồi múa bút viết một hơi 3 bài thất ngôn lừng danh, tựa là “Thanh B́nh Điệu”, ca ngợi nhan sắc quư phi. Nhà vua say mê Dương Quư Phi là vậy, mà đêm đó ngủ chung giường với Lư Bạch. Sáng ra, thái giám bước vào, thấy nhà vua đă thức, nhưng Lư Bạch c̣n ngủ say, một chân gác lên bụng nhà vua. Nhà vua nhẹ khoát tay ra hiệu cho thái giám lui ra, rồi cứ nằm im, chờ đến lúc Lư Bạch thức dậy, v́ không muốn phá giấc ngủ ngon của thi nhân.
Về sau, trong một đêm trăng sáng, Lư Bạch ngồi thuyền uống rượu thưởng trăng, lúc đă quá say, thấy có vừng trăng sáng dưới ḷng sông, bèn nhảy xuống ôm trăng mà chết đuối.
Xin lập lại, những chuyện kể trên chỉ là giai thoại.

DẠ TỨ
Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương

(Lư Bạch)

Ư ĐÊM
Nh́n trăng sáng rọi trước giường
C̣n ngờ mặt đất phủ sương lúc nào
Ngẩng đầu nh́n ánh trăng cao
Cúi đầu nghe nhớ dạt dào cố hương

(Bản dịch của Nguyễn Quốc Hùng)

XUÂN TỨ
Yên thảo như bích ty
Tần tang đê lục chi
Đương quân hoài quy nhật
Thị thiếp đoạn trường th́
Xuân phong bất tương thức
Hà sự nhập la vi?

(Lư Bạch)

Ư XUÂN
Đất Yên cỏ biếc như tơ
Xứ Tần dâu ngả cành hờ xum xuê
Ngày chàng tính chuyện trở về
Th́ ḷng thiếp cũng tái tê nỗi sầu
Gió xuân quen biết chi đâu
Cớ ǵ lại lén thổi vào màn the?

(Bản dịch của Nguyễn Quốc Hùng)

Bài thơ này thuộc thể Ngũ ngôn Cổ thi, không giới hạn số câu như Bát cú hoặc Tứ tuyệt. Yên là tên vùng đất tỉnh Hà Bắc ngày nay, Tần là vùng Thiểm Tây ngày nay. Hai câu đầu tả cảnh mùa xuân cỏ biếc ở đất Yên, dâu xanh ở đất Tần, gợi lên h́nh ảnh xa xôi cách trở của đôi vợ chồng trẻ lúc xuân về. Hai câu giữa nói về t́nh ư thiết tha, chồng th́ nghĩ đến ngày về, vợ th́ đứt ruột trong niềm mong mỏi, v́ mùa xuân là mùa của t́nh yêu đôi lứa. Trong lúc mong đợi mà không thấy chồng về, chỉ có ngọn gió xuân không quen biết thổi vào màn cửa khiến người vợ trẻ thẹn thùng, cảm thấy ngây ngất xuân t́nh, tràn trề xuân ư.
Trong thơ Đường, cái hay là ở lời ít ư nhiều, và quan trọng nhất là luôn để lại một dư hương, dư ảnh, dư vị, dư t́nh, khiến người đọc phải ngẩn ngơ, vương vấn.


II. HOÀNG HẠC LÂU
Bài thơ thất ngôn bát cú Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (cũng đọc Thôi Hạo) là một trong những bài thơ Đường quen thuộc nhất, được ưa thích từ bao đời nay, chẳng những ở Trung Hoa (gồm cả Đài Loan và Hương Cảng) mà c̣n ở cả Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, là những nước đồng văn, cùng có một khoảng lịch sử lâu dài nghiên cứu, học tập văn chương Trung Hoa, sử dụng chữ Hán trong giáo dục, khoa cử, và hành chánh.
Thôi Hiệu quê ở Biện Châu, tức huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam ngày nay, đậu Tiến Sĩ niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, làm quan đến chức Tư huân Viên ngoại lang, mất năm 754 (không rơ năm sinh). Ông giỏi thơ văn, thích đề thơ tại những di tích hoặc thắng cảnh, nhưng chỉ c̣n lại bài Hoàng Hạc Lâu và 2 bài Trường Can Hành (thể Ngũ ngôn), mỗi bài chỉ có 4 câu.
Tương truyền, Lư Bạch đến lầu Hoàng Hạc, thấy bài thơ của Thôi Hiệu đề ở nơi này quá hay, không ai có thể viết hay hơn được nữa, mới than rằng:

Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu!

(Trước mắt có cảnh mà không thể nói ra được
V́ Thôi Hiệu đă đề thơ ở phía trên rồi!)

Từ xưa, giới tao nhân mặc khách Trung Hoa đă có dư luận rằng ông “Thi Tiên” kiêm “Tửu Tiên” Lư Bạch ác quá! Chỉ riêng bài thơ của Thôi Hiệu đề tại lầu Hoàng Hạc cũng đă đủ khiến người đời sau muốn đề thơ tại đây phải thấy ngại ngùng rồi, lại thêm “lời b́nh” của Lư Bạch th́ từ đời Đường lúc đó cho đến muôn vạn đời sau sẽ không c̣n ai đề thơ nơi thắng tích này nữa!
Người Việt từ bao đời nay vẫn thích thơ Đường v́ đặc tính súc tích (lời ít ư nhiều), h́nh ảnh đẹp và sinh động, âm điệu du dương. Người yêu “cái khó” của nghệ thuật văn chương c̣n thích thơ Đường ở luật thơ rất khắt khe, chặt chẽ (niêm, luật, vần, đối, bố cục), v́ nếu dễ dàng quá, ai cũng làm được th́ không c̣n là nghệ thuật nữa. Có người cho rằng quy luật quá chặt chẽ khiến ư tưởng g̣ bó, lời lẽ khô khan, và quá nặng về luật thơ sẽ làm giảm tính chất sáng tạo. Nhưng sự thật cho thấy, với luật lệ rất chặt chẽ, khó khăn như vậy mà rất nhiều thi nhân Trung Hoa, không chỉ ở đời Đường, mà c̣n các đời sau, và cả những thi nhân Việt Nam thời xưa vẫn có những bài thơ để đời, chỉ v́ các tác giả đó thực sự có tài năng, có nghệ thuật, có tâm hồn, giàu óc sáng tạo, xứng đáng được gọi là thi nhân.

HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ Châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Thôi Hiệu)

Có nhiều người đă dịch bài thơ này, trong đó bản dịch của Vũ Hoàng Chương không sát nghĩa, bản dịch của Trần Văn Ân th́ chữ thứ 7 của câu 2 thất luật bằng trắc, bản dịch của Trần Trọng San th́ câu 2 và câu 4 thất niêm…, riêng bản dịch của Tản Đà vẫn được coi là hay nhất.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Băi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai

(Bản dịch của Tản Đà)

Ông thân tôi là bạn của ông Tản Đà. Năm 1954, trước khi di cư vào Nam, ông thân tôi có dẫn tôi đi xe điện xuống Ngă Tư Sở (ngoại ô Hà Nội) thăm và từ biệt bà Tản Đà, lúc đó sống rất nghèo khổ. Ông thân tôi kể rằng ông Tản Đà rất bực bội v́ hai tiếng “cây bày” (ư nói cây đứng thành hàng), nhưng v́ bằng trắc và vần, không thể sửa được. Thật vậy, câu 5 là câu khó dịch nhất, dịch nghĩa là “Con sông lúc trời quang tạnh, cây cối đất Hán Dương đứng thành hàng”. Khi dịch câu này, tôi tưởng tượng ra rằng nước sông ở đất Hán Dương lúc trời quang tạnh soi bóng hàng cây trên bờ, như vậy mới là h́nh ảnh đẹp.

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi măi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương c̣n nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

(Bản dịch của Vũ Hoàng Chương)

Người xưa cỡi hạc đi đâu tá
Hoàng Hạc Lâu nay vẫn c̣n đây
Một phút hạc vàng thăm thẳm biệt
Ngh́n năm mây trắng lững lờ bay
Hán Dương cây tỏ sông quang tạnh
Anh Vũ băi mờ cỏ mướt dày
Chiều quạnh đâu là hương lư cũ
Trên sông khói sóng năo ḷng này

(Bản dịch của Trần Văn Ân)

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn c̣n đây
Hạc đă một đi không trở lại
Man mác muôn đời mây trắng bay
Hán Dương sông tạnh cây in thắm
Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc đầy
Chiều tối quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai

(Bản dịch của Trần Trọng San)

Người xưa cỡi hạc đi rồi
Nơi này Hoàng Hạc trơ ngôi lầu buồn
Một lần hoàng hạc đi luôn
Ngàn năm mây trắng chập chờn vẫn bay
Hán Dương sông rọi hàng cây
Băi cồn Anh Vũ trải dày cỏ thơm
Cổng làng đâu, đă chiều hôm
Đầy sông khói sóng, người ôm nỗi sầu

(Bản dịch của Nguyễn Quốc Hùng)

Trước 1975, tôi chỉ dịch thơ Đường sang thể Lục Bát, v́ đó là thể thơ hoàn toàn Việt Nam, đậm giai điệu quê hương, mặc dầu sẽ khó dịch hơn là chọn thể Đường luật. Cũng v́ vậy tôi thích thơ dịch của Tản Đà nhất.


III. THƠ LƯU VŨ TÍCH
Lưu Vũ Tích tự là Mộng Đắc, quê ở Trung Sơn, đậu Tiến Sĩ khoa Bác học Hoành từ, làm quan đến chức Tập Hiền Điện Học sĩ, từng giữ chức Thứ Sử ở Tô Châu (tương tự Thái Thú một quận đời Hán), rồi được gọi về triều, thăng chức Thái tử Tân khách (một chức quan dạy học và làm cố vấn cho Thái tử). Đầu niên hiệu Nguyên Ḥa, v́ theo phe Vương Thúc Văn mà ông bị cách chức. Ông nổi tiếng về tài văn thơ, là bạn thân của các văn gia thi sĩ lừng danh đời Đường như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên.

XUÂN TỪ
Tân trang nghi diện há chu lâu
Thâm tỏa xuân quang nhất viện sầu
Hành đáo trung đ́nh sổ hoa đóa
Thanh đ́nh phi thướng ngọc thoa đầu

(Lưu Vũ Tích)

BÀI TỪ MÙA XUÂN
Điểm trang xuống khỏi lầu son
Ánh xuân khóa chặt, sầu chôn một ṭa
Ra sân đếm mấy đóa hoa
Chuồn chuồn bay tới cây thoa cài đầu

(Bản dịch của Nguyễn Quốc Hùng)

Lưu Vũ Tích không thích làm quan trong triều, và thường tỏ ra thương hương tiếc ngọc, thương cảm cho đời sống của những cung nữ trong cung cấm, mà bài “Xuân Từ” trên đây là một bằng chứng.
Trong bài, tác giả mô tả cảnh xuân buồn bă, quạnh quẽ trong cung. Người cung nữ trang điểm lại dung nhan một lần nữa rồi bước xuống khỏi ṭa lầu son. Trước cảnh quạnh quẽ, cô liêu của ngày xuân cung cấm, nàng có cảm tưởng vẻ xuân bị khóa chặt nơi đây, cũng như tuổi xuân của ḿnh vậy, và cả một ṭa cung cấm chỉ là một nỗi sầu. Nàng bước ra giữa sân, không biết làm ǵ hơn là đếm những đóa hoa cho qua thời gian, trong khi đó một con chuồn chuồn ở đâu bay tới cây thoa ngọc cài đầu của nàng. Có lẽ chuồn chuồn hiểu được tâm trạng trống trải cô đơn của nàng mà đến với nàng chăng?
Trong cuốn Đường Thi Tam Bách Thủ Chú Giải của danh sĩ đời Thanh là Hoành Đường Thoái Sĩ - chú giải vào mùa Xuân năm Quư Mùi, niên hiệu Càn Long - ông viết:
Toàn bài lấy chữ Sầu làm chủ đề, tả nỗi buồn trống vắng của người cung nữ bị chôn chặt tuổi thanh xuân trong cung cấm, rồi lấy h́nh ảnh con chuồn chuồn để điểm thêm vào, làm nổi bật nỗi cô liêu vô vị, có thể nói là “diệu ngữ nhập thần”.
Trong thơ Đường luật Tứ tuyệt, cái hay là ở lời ít ư nhiều, và quan trọng nhất là câu kết, phải luôn để lại một dư hương, dư ảnh, dư vị, dư t́nh, khiến người đọc phải ngẩn ngơ, vương vấn. Xuân Từ của Lưu Vũ Tích chính là một bằng chứng điển h́nh vậy, xưng tụng là “diệu ngữ nhập thần” kể cũng không quá đáng.

NGUYỄN QUỐC HÙNG.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved