Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Tôi quen chị Mai Trân trong chuyến Du-lịch thăm Trung Quốc mùa Thu năm 2000 của Voyages Saigon. Chị là người ít nói khi ngồi giữa đám đông nhưng lại rất dễ gần gũi, và khi nói chuyện th́ chị có cách nói chậm răi và rất mạch lạc. Về cuối chuyến đi tôi lại càng mến chị ở sự thẳng thắn nhưng tế nhị, tính trung thực và công bằng trong quan hệ với những người khác, dù là thân hay sơ. Cũng trong chuyến đi ấy, tôi được biết chị là người sinh trưởng và lớn lên ở Cambodia, đất nước mà tôi đă có dịp t́m hiểu trong thập niên 1980 khi tôi đang làm việc cho một Đề-án của Liên Hiệp Quốc.
Sau khi trở về California, chúng tôi vẫn thỉnh thoảng liên lạc với nhau qua e-mail, và cùng hẹn với nhau rằng sẽ viết để kể lại kỷ niệm của mỗi người về cái đất nước tưởng là gần gũi thân thiết nhưng hóa ra lại ẩn chứa rất nhiều nghịch lư khó hiểu ấy: Cao Miên - Cam Bốt - Kampuchea - Cambodia.
Hôm nay th́ tôi vừa nhận được bài của chị để đăng trên trang SALADE EsPRESSO này. C̣n tôi th́ quá bận bịu công việc nên cuối cùng đành lỗi hẹn với chị, v́ chưa viết ǵ cả. Đọc bài của chị, tôi rất xúc động v́ những h́nh ảnh chị mô tả, và cách kể chuyện của chị. Chậm răi, mạch lạc.
Cảm ơn chị Mai Trân, và xin lỗi chị. Chắc chắn thế nào tôi cũng phải viết một bài về Cambodia. Nói đúng ra tôi mang nợ chính bản thân tôi nhiều hơn là nợ chị, một người không thích kể nợ.
Và xin giới thiệu với độc giả bài viết đầu tiên của chị Mai Trân.
TRẦN CHÍNH.
(California, Jun 16, 2003)


LỄ CHÔL CHNAM THMÊY Ở BATTAMBANG

Tôi ra đời ở một làng nhỏ, nằm bên cạnh đường rầy xe hỏa từ Battambang đi Phnom-Penh. Đó là thời kỳ khói lửa mà quân đội Hoàng Gia Cao Miên đang đánh nhau với quân Issarak, tiền thân của Khmer Đỏ. Từ Battambang, một thành phố về hướng tây-bắc của thủ đô Phnom-Penh, ba mẹ tôi di tản theo xe hỏa đến ga Maung th́ tàu không đi được nữa. Hai cụ đă dừng lại, định cư tạm thời ở cái làng nhỏ bé, nghèo nàn, với những căn nhà lợp tranh, vách bằng lá thốt nốt khô ghép lại với nhau. Mẹ tôi mang thai tôi gần ngày, đă chuẩn bị cho ngày ra đời của tôi tại cái làng hẻo lánh này bằng ba cái tă vải, được cắt ra từ một cái áo bà ba trắng cũ.
Vào những giờ đầu tiên của một ngày mùa đông, mẹ tôi chuyển bụng đẻ. Ba tôi xách cây đèn dầu cùng người đàn ông Miên hàng xóm đi bộ sang làng bên cạnh để rước bà mụ. Với nụ cười và ánh mắt rạng rỡ, ba tôi kể lại là lúc trời hửng sáng, khi những tia hồng rọi lên từ chân trời, ba tôi cùng bà mụ bước vào nền nhà bằng đất nện th́ đă thấy tôi nằm trên cái chơng tre, hai mắt mở to ngơ ngác nh́n quanh. Trong nhà tấp nập những người đàn bà nhà quê, đen đủi, ḿnh quấn sà-rông, đi chân đất, đă đến giúp nấu nước, cắt rốn, và đón tôi ra chào đời.
Ba mẹ tôi sau đó đă trở về Battambang sinh sống. Chúng tôi ở bên hữu ngạn của sông Sangker, con sông nông choẹt chạy dọc theo thành phố. Đến mùa mưa lũ, nước sông đục ngầu chảy cuồn cuộn, dâng cao làm ngập lụt những vùng sát bờ bên tả ngạn. Thành phố có hai cây cầu bắc qua sông, cầu sắt và cầu đúc. Nhưng dân cư bên tả ngạn thường dùng đ̣ chèo tay để qua sông buôn bán. Đến mùa khô, nước sông rút đi hết, nhiều đoạn chỉ c̣n trơ cát và đất bùn đă khô quánh lại. Những chiếc cầu khỉ bằng tre đă được dựng lên thay cho đ̣ để giúp dân chúng di chuyển qua sông.
Tết Cao Miên vào giữa tháng tư dương lịch hàng năm. Đây là ngày hội lớn. Các công, tư sở, và trường học được đóng cửa ba ngày, từ 13 đến 15 tháng tư. Tôi đă được cái may mắn hưởng cả ba cái Tết trong một năm: Tết Dương-lịch với bạn bè cùng học ở trường bà sơ Providence, Tết Nguyên-đán với đày đủ chè kho, bánh chưng, gị thủ, dưa hành cùng gia đ́nh và bạn bè của bố mẹ tôi, và rầm rộ nhất, kéo dài nhiều ngày là lễ Chôl-chnam-thmêy (“Vào-năm-mới”) của người Khmer.
Đầu đường số một của thành phố có một băi đất trống, rất rộng. Từ cuối tháng ba, đầu tháng tư dương lịch, nhiều rạp hát được dựng lên. Rạp được dựng sơ sài chỉ để dùng trong ba ngày Tết, trên nền đất đầy cỏ khô, lót gỗ làm sân khấu. Hai bên rạp cũng có cánh gà và hậu trường đằng sau để các nghệ sĩ có chỗ thay đổi y trang. Một rạp dành cho “Lạc khon cô”, một loại tuồng câm giống như hát bi, diễn theo các tích cổ. Nghệ sĩ tŕnh diễn trang phục rất đẹp, với những quần áo cổ xưa bằng gấm hay bằng tơ sống, có thêu chỉ vàng, chỉ bạc, và gắn các hạt đá màu rực rỡ. Tuồng tích được diễn đạt hoàn toàn bằng nhạc cổ truyền, các điệu múa và cử chỉ, cùng nét mặt của các diễn viên.
Rạp thứ hai tŕnh diễn “Lạc khon”, cũng như cải lương của ta, với những đề tài xă hội hay các tích cũ trong cung vàng điện ngọc. Rạp thứ ba, cảnh trí rất đơn giản, tŕnh diễn “À-yay”, một loại kịch hát đối đáp, do một nam một nữ tŕnh bày rất vui nhộn. Nhưng cái mà bọn con nít chúng tôi thích nhất là “À-yoong”, một loại múa rối bằng bóng mờ, kiểu shadow puppets, được tŕnh diễn vào buổi tối. Sân khấu được dựng cao, với một tấm màn trắng to như để chiếu phim. Các nghệ sĩ điều khiển múa rối ngồi đằng sau tấm màn này và sử dụng các con rối được cắt gọt công phu để người xem chỉ cần nh́n những cái bóng in trên tấm màn mà có thể hiểu được các vai trong truyện. Có hát, có nhạc, và có thuyết minh cho mỗi vở tuồng. Dàn nhạc được đặt ngồi phía ngoài sân khấu. Không có ghế cho khán giả - người xem tự mang theo và ngồi lên trên những tấm khăn "choàng tắm", một loại khăn bằng vải sọc vuông thường được dùng làm khăn tắm hay khăn quấn cổ.
Ngoài ra c̣n có những nhóm múa Lâm-thon, một loại "múa đôi" b́nh dân, nam nữ mời nhau bằng cách chắp tay, cúi đầu với người ḿnh muốn mời nhập cuộc. Nữ đi trước, nam theo sau, chậm răi một chân khẽ nhún xuống, chân kia bước tới, hai tay đưa lên hướng về một phía cùng một lúc, bàn tay ngửa th́ đưa lên cao, bàn tay xấp th́ đưa xuống phía dưới theo điệu nhạc Lâm-thon. Có khi không có nhạc, một người hát lên một câu bắt đầu một bài hát Lâm-thon b́nh dân “Ôn srey ơi, srà lanh bọng tê?” (“Em gái ơi, có yêu anh không?”) và đám đông sẽ hát theo để cổ vơ. Những người múa đi theo nhau thành ṿng tṛn. Đám múa sẽ trở nên vui nhộn khi một cặp tách khỏi ṿng tṛn và tiến vào giữa ṿng. Người đàn ông, hai tay giơ ra hai bên, bàn tay úp xuống, chân nhún nhẩy đi quanh người đàn bà y như con gà trống đang ve văn con gà mái. Điệu nhạc trở nên dồn dập hơn, các bước chân của nam vũ công mau hơn và tiến sát gần nữ vũ công hơn, trong lúc đám đông vỗ tay, reo ḥ tán thưởng và cổ vơ. Đây là nơi để trai gái tỏ t́nh, những chàng trai nhút nhát hay bạo phổi đều cùng được dịp biểu lộ t́nh yêu bằng điệu múa, lời ca, và sự khuyến khích của đám đông.
Có nhiều hàng ăn, bằng xe đẩy để phục vụ đám đông. Trời nóng bức nên chỗ đông khách nhất là những xe bán nước đá bào được nắm chặt lại như quả bóng tennis, có rưới si rô làm bằng các loại trái cây. Hàng bán thốt nốt, một loại giống như dừa nước của miền Nam VN, ngâm đá và đường cũng đông khách không kém. Các xe cà rem cây cũng được chiếu cố tận t́nh. Kem que ở Battambang có lẽ là kem ngon nhất thế giới! Kem thật mịn, béo ngậy, làm bằng nườc cốt dừa, sầu riêng, nhăn, hay mít, dược giữ đông lạnh trong thùng đá. Kem được cắt thành từng miếng vuông hay chữ nhật và được cắm một cái que bằng tre vót láng. Chú Ba người Tàu bán kem là một chàng thanh niên đẹp trai, khoẻ mạnh và lực lưỡng, có lẽ nhờ quay kem bằng máy quay tay. Tôi thường được chú cắt cho một miếng to hơn của những trẻ con khác v́ chú quen với ba mẹ tôi.
Một món khoái khẩu khác là món bánh mí hột gà, c̣n được bọn trẻ con gọi là “củi khô”. Đây chỉ là bột ḿ trộn với đường và trứng gà, se lại như chiếc đũa, cắt ngắn độ nửa gang tay và chiên ḍn. Bánh được buộc lại từng bó như bó củi khô, thơm nức mũi và ḍn tan, rất thích hợp cho bọn trẻ con nhấm nháp, ăn dè xẻn. Cùng loại bánh chiên có bánh tai yến mà tôi rất thích nh́n bà hàng người Việt Nam làm tại chỗ. Một th́a to hỗn hợp bột đă trộn sẵn được đổ vào giữa chảo mỡ nóng. Một tiếng “xèo” reo vui, vành bánh tṛn co lại như viền, khoảng giữa bánh nổi lên, vàng dần giữa ḷng chảo. Bánh được đổ từ chiếc muôi to bằng cái miệng bát ăn cơm, và khi chín được gắp ra đặt trên miếng lưới cho ráo. Lật miếng bánh lên, mặt dưới lỗ chỗ như tổ ong, giống như loại bánh ḅ bột trong mà người Tàu hay bán chung với “gị cháo quảy” mà người ta có thể mua ngay gian hàng bên cạnh. Ngoài ra c̣n có chuối và khoai lang, khoai môn tẩm bột chiên.
Ai thích nếp th́ mời sang hàng xôi xiêm “bai-tà-nớp-sangkiar”. Xôi trắng thật mềm, trên có rưới nước cốt dừa và một lớp “sangkiar” thật dầy, một hỗn hợp của trứng gà, sầu riêng, đường và nước cốt dừa hấp cách thủy. Một món bánh nếp khác là bánh chuối hấp. Nếp được xào kỹ với dừa nạo, trộn với đậu đen ngâm mềm và mít chín thái sợi, rồi bao quanh một quả chuối sứ chín mùi, bọc lá chuối và cũng đem hấp cách thủy. Bóc áo lá chuối c̣n bốc hơi ra, cắn một miếng bánh đến ngập răng, người ta sẽ tận hưởng cái mùi nếp thơm dẻo, mùi nước dừa béo ngậy, trái chuối chín mềm và ngọt như ướp mật, đậu đen thật bùi, điểm thêm mấy sợi mít vàng như nghệ. Ăn xong một cái, không những cả năm giác quan, mà có lẽ tất cả các tế bào trên cơ thể con người ta đều rung động! Quư vị sẽ muốn ăn thêm cái nữa, nhưng thôi xin mời quư vị hăy bước sang hàng bên cạnh, thưởng thức món bánh chuối nướng. Đây là cùng loại bánh nhưng thay v́ hấp cách thủy, bánh được nướng trên ḷ than thật nhỏ lửa, cho đến khi nếp chín vàng.
Cùng họ nhà xôi có món “cà-lan” rất b́nh dân, vốn là cơm nếp trộn dừa và đậu trắng, nấu trong ống tre. Lớp vỏ tre ngoài cùng đă được gọt đi, bày ra lớp vỏ bên trong trắng nơn. Chỗ mấu tre phía trên được cắt đi để đổ nếp vào, đă có lá chuối tươi cuộn lại làm nắp đậy kín. Khi ăn, ta chỉ việc tước lớp vỏ tre mềm này ra. “Cà-lan” bên trong c̣n có một lớp vỏ giấy của tre bọc kín, tṛn lẳn, ăn vừa dẻo, vừa bùi, lại vừa béo, vừa thơm.
Nói tới các món ăn trên xứ Cao Miên th́ c̣n nhiều thứ lắm. Nhiều món đă được tái tạo lại ở Việt Nam, trong làng “Việt Kiều Kampuchea hồi hương” mà quư vị sẽ được đọc trong bài "Chợ Lê Hồng Phong".

MAI TRÂN.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved