Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

THƠ HOÀNG DUY – HAI BÀI VỀ ĐỖ PHỦ THẢO ĐƯỜNG

Gần một năm sau khi đi chơi sông Dương Tử (Trung Quốc) với Voyages Saigon trở về, bác Lê Văn Ba - tức nhà thơ Hoàng Duy - sắp sửa cho ra mắt tuyển tập thơ “Hoa Du Thi Cảm”, tập hợp phần lớn những bài thơ bác đă làm trong chuyến đi ấy. Trong tuyển tập, tôi đặc biệt thích hai bài thơ mà Hoàng Duy đă sáng tác về gian nhà cỏ (thảo đường) của đại thi hào Đỗ Phủ ở Thành Đô, trong tỉnh Tứ Xuyên.
Riêng đối với tôi, Thảo Đường ở Thành Đô không phải chỉ là Nhà tưởng niệm về thân thế và sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ, mà c̣n là ngôi Đền của Thi Ca Trung Quốc. Mỗi năm trở lại thăm nơi ấy, và nh́n lại mấy gian nhà tường đắp bằng đất với mái lợp cỏ tranh đơn sơ, nh́n lại chiếc bàn và chiếc ghế cũ kỹ với ống bút và nghiên mực kê trước khung cửa sổ có chấn song bằng thân tre già, nơi nhà thơ ngồi nh́n ra những đêm trăng sáng rồi “khổ v́ làm thơ” (“tác thi khổ”), tôi mới càng thấm thía hơn tấm ḷng vị nhân sinh đầy trăn trở của ông và niềm tâm sự mà ông gửi gắm cho hậu thế qua hai câu thơ và với cái lối nói buồn bă cố hữu của ông:

“Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri”.
Văn chương là chuyện ngh́n đời, thành bại chỉ ḷng ta biết!
Xin giới thiệu với độc giả hai bài thơ của Hoàng Duy về Đỗ Phủ Thảo Đường.
Trần Chính.
(California, Jun 12, 2003)
[Phần chú thích dưới các bài thơ là của Trần Chính (Voyages Saigon), người đă hướng dẫn chuyến du-lịch thăm Trung Quốc và đi chơi sông Dương Tử vào mùa Hè năm 2002]


ĐỖ PHỦ THẢO ĐƯỜNG

Đẹp thay Đỗ Phủ thảo đường
Đào mai thông trúc xanh thường quanh năm (1)
Xứng danh thi thánh nhân văn (2)
Nói giùm nỗi khổ người dân đói nghèo
Thương ông thân ốm tong teo (3)
Nhà ông lều cỏ cheo leo cạnh rừng
Nhà ông là chỗ vui mừng
Cổ kim thi sĩ khắp cùng nhân gian
Thi tiên Lư Bạch chén vàng (4)
“Thanh B́nh Điệu” khúc ngâm vang thảo đường (5)
Cùng người hái thuốc bên rừng
Thi ông Giả Đảo ngập ngừng chén trao (6)
Thôi Hiệu cưỡi hạc bước vào (7)
Phất phơ mấy giải lụa đào mây bay
Vương Duy, Vương Bột đan tay (8)
Hợp cùng Vũ Tích uốn cây liễu buồn (9)
Bao nhà thi sĩ ngâm luôn
Tám bài Thu Hứng tà dương tiếng đàn (10)
Bạch Cư Dị đất Hương Sơn
G̣ hoang Trường Hận bến hờn Tầm Dương (11)
Trúc xanh ngả bóng bên đường
Gió lay đào thắm trăng vương mai gầy
Thiếu Lăng nét bút rồng bay (12)
C̣n ghi dấu tích những ngày thư sinh
Qua đây thấu hết nỗi t́nh
Cảm thông tâm sự của ḿnh của ông
Thăm ông ghi lại tấm ḷng
T́nh người tri kỷ gửi ḍng thời gian!

(Thành Đô, ngày 21 tháng 6 năm 2002)

Chú thích: (1) Quanh gian nhà cỏ của nhà thơ Đỗ Phủ có trồng rất nhiều đào, mận (mai), thông và trúc. (2) Đỗ Phủ được mệnh danh là “thi thánh”, bậc thánh của thi ca. (3) Họ Đỗ cả đời rất gầy ốm; Bạn ông, Lư Bạch, gọi đùa ông là “thái sấu sinh” [“anh chàng gầy ốm tong teo”]. (4) Lư Bạch được mệnh danh là “thi tiên”; Lần đầu gặp ông, Hạ Tri Chương đă thốt lên “họ Lư quả là trích tiên giáng trần!”. (5) Tên bài thơ nổi tiếng của Lư Bạch làm tặng Đường Minh Hoàng, bị Cao Lực Sĩ đem gièm pha với Dương Quư Phi. (6) Thi sĩ thời Trung Đường, tác giả của hai câu “Nhị cú tam niên đắc, nhất ngâm song lệ lưu” [“Hai câu thơ mất ba năm mới làm xong, khi ngâm lên th́ hai hàng lệ tuôn”]. (7) Thôi Hiệu, người nổi tiếng cổ kim nhờ bài thơ “Hoàng Hạc Lâu”. (8) Vương Bột là nhà thơ thời Sơ Đường và Vương Duy thời Thịnh Đường. (9) Lưu Vũ Tích là nhà thơ thời Trung Đường. (10) Tám bài “Thu hứng” (Thu hứng bát thủ) là thơ của Đỗ Phủ. (11) Trong hai bài thơ của Bạch Cư Dị: g̣ Mă Ngôi nơi Dương Quư Phi bị ải tử [“Trường Hận Ca”], và bến Tầm Dương nơi nhà thơ họ Bạch gặp người kỷ nữ về già [“Tỳ Bà Hành”]. (12) Đỗ Phủ nguyên quán ở đất Đỗ Lăng (Thiểm Tây) nên đời sau c̣n gọi ông là Đỗ Thiếu Lăng.


KÍNH NHỚ GỬI ĐỖ PHỦ

Thăm qua Đỗ Phủ thảo đường
Về nhà thấy nhớ thấy thương người nghèo
Văn chương chữ nghĩa bao nhiêu
Làm sao đem đổi cái nghèo cho ai (1)
Nhờ ông lên tiếng con người
Bất công đối xử cuộc đời nhân dân (2)
“Thạch hào lại”, tệ xóm làng (3)
Đang đêm bô lăo t́m đàng tránh đi
Đây “Thùy
lăo biệt” sầu bi (4)
Tứ phương loạn lạc trở về xác xơ
Thây người rải rác bên bờ
Quẳng đi gậy trúc lệ mờ hơi sương
“Lệ nhân hành” lúc nhiễu nhương
Nhân dân chết đói thảm thương kêu trời (5)
Triều trung yến tiệc vui chơi
Sơn hào hải vị khắp nơi thu về
Minh Hoàng hoan lạc say mê
Vua quan tận hưởng bỏ bê công đường (6)
“Vô gia biệt” đâu náu nương? (7)
Không nhà không cửa không lương thực ǵ
Thân không ấm, bụng chẳng no
Đó là phận rủi dành cho dân thường
“Tân hôn biệt” chưa ấm giường (8)
Vợ chồng mới cưới chiến trường ruổi dong
Nhờ ông nhân ái cảm thông
Khách cho đệm gấm cơi ḷng sướng vui
Mừng mưa mừng gió thuận mùa (9)
Niềm vui đại chúng thuở xưa ngày rày
Nhờ ông ta hiểu cái hay
Học trang lịch sử học ngay cuộc đời
Dù cho có chep bao lời
Làm sao ghi hết ḷng tôi với ngài!

(Đỗ Phủ thảo đường, ngày 21 tháng 6 năm 2002)

Chú thích: (1) Bản thân Đỗ Phủ rất nghèo, như ông thường tự nói “cả đời sống thanh khổ”. (2) Đỗ Phủ được mệnh danh là “nhà thơ của nhân dân”. (3) Tên bài thơ của ĐP, kể chuyện cường hào ức hiếp người ở nông thôn. (5) Năm 752 họ Đỗ nghe tin đứa con nhỏ chết đói ở quê nhà, cùng lúc ấy lại nh́n thấy cảnh sống xa hoa hưởng lạc của Đường Minh Hoàng và Dương Quư Phi; Nỗi bi phẫn đă cho ông cảm hứng sáng tác hai bài “Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài” và “Lệ nhân hành”. (6) Bạch Cư Dị kể lại chuyện Đường Minh Hoàng mê đắm Dương Quư Phi trong “Trường Hận Ca”: “ṭng thử quân vương bất thảo triều” [“từ đấy quân vương vắng buổi chầu”]. (4), (7) và (8) Tên ba bài thơ [“tam biệt”] họ Đỗ sáng tác trong thời gian chạy loạn An-Sử, lúc ấy ông chưa vào đất Thục (Tứ Xuyên). (9) Ư của bài thơ “Xuân dạ hỷ vũ” [“Đêm xuân mừng trời mưa”], mang phong thái lạc quan và lăng mạn vốn không đặc trưng ở ĐP. Họ Đỗ làm bài này khi đă vào ở Thành Đô thảo đường.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved