Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

THƠ HOÀNG DUY - PHẦN I

Tác giả của những bài thơ dưới đây là Lê Văn Ba – bút hiệu Hoàng Duy – một khách hàng của Voyages Saigon trong chuyến Du-lịch thăm Trung Quốc và đi chơi sông Dương Tử vào mùa Hè năm 2002. Trong suốt chuyến đi này, tác giả (nhà thơ Hoàng Duy) luôn đem theo với ḿnh một tập giấy và một cây bút. Ngoài cái tài sáng tác thơ, dường như ông c̣n có một nguồn thi hứng dồi dào và bất tận, bởi v́ trong suốt hành tŕnh Du-lịch 14 ngày của ông cùng với Voyages Saigon, ông có thể làm thơ ở bất cứ nơi đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Những điều tai nghe mắt thấy (cùng “những cảm xúc không thể nào quên”, như chính ông nói) trong chuyến Du-lịch ấy đă cho ông chất liệu và cảm hứng để sáng tác gần 40 bài thơ dài, ngắn khác nhau. Vào buổi tối đầu tiên của Đoàn tại Vũ Hán (trong tỉnh Hồ Bắc) sau khi Đoàn đă kết thúc phần đi thăm tỉnh Tứ Xuyên và cuộc du ngoạn 3 ngày 3 đêm trên sông Dương Tử, tác giả đă đọc cho cả Đoàn nghe một số bài thơ vừa mới sáng tác của ông, và đă được những người bạn cùng đi rất tán thưởng.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của trang Văn-nghệ SALADE EsPRESSO này, Voyages Saigon – với sự đồng ư và cho phép của nhà thơ Hoàng Duy – chỉ xin giới thiệu một số bài mà chúng tôi đắc ư nhất (dĩ nhiên là theo thiển ư chủ quan của những người phụ trách biên tập trang Văn-nghệ này).
SALADE EsPRESSO.

[Phần chú thích dưới các bài thơ là của Trần Chính (Voyages Saigon), người đă hướng dẫn chuyến du-lịch ấy]


MAO TRẠCH ĐÔNG CÔ ĐỘC

Ông Mao cô độc một ḿnh
Giơ tay năm ngón như h́nh phân bua (1)
Tội, công núi biển năm xưa
“Ngọn cờ Cách Mạng” có chừa ai đâu!
Họ Lưu lănh nhát gươm đầu
Nhị Bành nhát nữa đạp nhào tướng quân (2)
Ba người Vạn-lư trường chinh
Mà sao ông nỡ dứt t́nh đệ-huynh
Cho nên ông đứng một ḿnh
Nghe chăng tiếng khóc sanh linh tai nàn?
Giang Thanh nàng hỡi ơi nàng (3)
Nàng đâu vắng bóng cho chàng buồn hiu
Dù ông có nói thật nhiều
Tội ông đă chép bao nhiêu sách dày
Mai sau nhân loại đều hay
Họ Mao gian ác gớm thay một đời!

(Thành Đô, ngày 20 tháng 6, 2002)

Chú thích: (1) Quay mặt ra quảng trường lớn ở trung tâm thành phố Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, là bức tượng rất lớn của lănh tụ Cộng-sản Mao Trạch Đông đang đứng đưa một bàn tay ra phía trước, với ư nghĩa rằng ông là “Người cầm lái vĩ đại” đang chỉ hướng cho nhân dân Trung Quốc tiến về tương lai (bức tượng này đă được xây dựng trong thời kỳ Cách-mạng Văn-hóa); Ở đây tác giả cho rằng họ Mao đưa bàn tay năm ngón ra trước mặt dường như là để phân bua về việc Lịch-sử đang “b́nh công” và “luận tội” ông. (2) Lưu Thiếu Kỳ và Bành Chân bị bức hại vào thời kỳ đầu của cuộc CMVH, nạn nhân tiếp theo là Bành Đức Hoài; Trong hai người họ Bành (tác giả gọi là “nhị Bành”), chỉ có Đức Hoài là Nguyên-soái trong quân đội Trung Quốc, và thực ra ông đă bị Mao hạ bệ từ đầu thập niên 60, sau đó ông lại bị “đánh” lần thứ hai khi Mao phát động cuộc CMVH. (3) Giang Thanh là vợ thứ 3 của Mao Trạch Đông, và là trợ thủ đắc lực của họ Mao trong cuộc CMVH; Các nhà Sử học hiện nay cho rằng bà là người phải chịu trách nhiệm chính về cái chết của hàng triệu người vô tội ở Trung Quốc trong thời kỳ “nội biến” đẫm máu ấy.


TIỆC LẨU CAY

Vui thay bữa tiệc lẩu cay (1)
Cá cay, thịt cay, người say rượu nồng
Cảm ơn đại Lăo-bà Hồng (2)
Tứ Xuyên đặc chế ra công lưu truyền
Hôm nay hữu phước hữu duyên
Du hành dừng bước tận miền Thành Đô
Mấy lời phi lộ dặn ḍ
Nước hồng cay gắt, nước mờ ngọt ngon (3)
Ban đầu cá thịt bỏ chung
Thêm rau thêm bí, chút đường chút tiêu
Giữ sao ngọn lửa riu riu
Thức ăn lần lượt nhúng đều cho cay
Ăn cay phải uống rượu cay
Hai cay nhập lại mới hay tuyệt vời
Ai ơi hăy thử chút chơi (4)
Món ngon vật lạ của người Tứ Xuyên!

(Thành Đô, ngày 22 tháng 6, 2002)

Chú thích: (1) Lẩu cay là món ăn đặc sản nổi tiếng của Tứ Xuyên, nhiều người cho rằng món này xuất phát từ Thành Đô, một số người khác lại cho rằng nó xuất phát từ Trùng Khánh. (2) Ở Thành Đô, nhà hàng Lẩu cay nổi tiếng nhất là “Lăo-bà Quán”; Quán Lăo-bà c̣n sản xuất rượu “Lăo-bà Hồng” nấu bằng cao-lương đỏ có hương vị rất đặc biệt; Rượu này có tác dụng “trị cay” đối với món Lẩu cay vốn rất cay! (3) Trước khi nhập tiệc, tôi thường có mấy lời giới thiệu về món Lẩu cay và hướng dẫn mọi người cách ăn; Lẩu cay có hai loại nước dùng, nước màu đỏ sậm rất cay và nước màu vàng đục th́ không cay, phải biết nhúng thức ăn sống vào nước dùng đang sôi cho đúng cách, biết nhúng thức ăn nào vào loại nước dùng nào, và ăn thứ nào trước thứ nào sau. (4) Theo thiển ư của tôi, Lẩu cay Tứ Xuyên đúng là món ăn thật mà như ăn chơi (chứ không phải ngược lại!).


CỬA THÀNH NƯỚC SỞ

Cửa thành Sở, sững sờ đứng đó (1)
Dấu vương xưa, nhắc nhở oán thù (2)
Giang Đông trở lại bấy chừ (3)
Biết đâu thiên hạ bây giờ khác xưa!

(Vũ Hán, ngày 28 tháng 6, 2002)

Chú thích: (1) Tỉnh Hồ Bắc thuộc về nước Sở vào các thời Xuân Thu và Chiến Quốc (thế kỷ thứ 8 - thế kỷ thứ 3 trước CN); Tại Vũ Hán hiện nay vẫn c̣n phế tích của cổng thành nước Sở. (2) Trong bài thơ này, tác giả nhắc đến Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ vào cuối đời Tần (206-202 trước CN), và việc tranh giành thiên hạ giữa Hạng Vũ và Lưu Bang. (3) Khi nói chuyện với tác giả (nhà thơ Hoàng Duy), tôi nhận thấy ông rất tâm đắc với câu nói cuối cùng của Hạng Vũ trước khi bậc cái thế anh hùng này cầm gươm tự tẫn: “Ta khởi binh ở Cối Kê, mang theo tám ngàn con em vượt sông, nay chỉ c̣n một thân trở về, thử hỏi c̣n mặt mũi nào để gặp lại các bậc phụ lăo ở Giang Đông?”.


LẦU HOÀNG HẠC

Chiều hè Vũ Hán dừng chân
Ghé thăm Lầu Hạc bâng khuâng nỗi ḷng (1)
Hạc vàng bay vút tầng không (2)
Lầu xưa c̣n lại mấy trùng mây bay
Xa xa Anh-Vũ đổi thay
Đâu c̣n cỏ lục hoa mai nở bừng (3)
Trường Giang con nước xuôi ḍng
Niềm riêng lại nhớ Thôi ông thuở nào (4)

(Vũ Hán - Hoàng Hạc Lâu, ngày 29 tháng 6, 2002)

Chú thích: (1) Hoàng Hạc Lâu, ngôi lầu nổi tiếng ở Hán Dương (Vũ Hán), xây bên bờ sông Dương Tử. (2) Chuyện kể rằng Người-tiên đă cưỡi hạc vàng bay đi mất từ ngôi lầu này, từ đó mà có tên “Hoàng Hạc Lâu”. (3) Mùa xuân hoa mận (mai) thường nở trắng cả thành sông Dương Tử [thơ của Lư Bạch: “tháng ba thổi sáo lầu hoàng hạc, thành sông vang khúc lạc mai hoa”]; Tác giả đến thăm Lầu Hoàng Hạc vào tháng 7 (mùa hè) nên tiếc cảnh hoa mận nở và rụng bên sông Dương Tử. (4) Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng nhờ bài thơ trứ danh của Thôi Hiệu, một nhà thơ đời Thịnh Đường, cùng thời với Lư Bạch (nửa đầu thế kỷ thứ 8) [xin xem bài thơ này trong chương tŕnh Tour Trung Quốc mùa Hè - Sông Trường Giang và Lầu Hoàng Hạc].


THĂM LĂNG MINH THÀNH TỔ, HỎI ÔNG VĨNH LẠC

Hoàng đế Vĩnh Lạc ông ơi (1)
Lần đầu mới gặp mấy lời hỏi ông
Hoàng cung ông ở tô hồng (2)
Máu xương dân Việt bao ḍng đổ ra?
Ngọc châu trang sức mấy bà
Bao người xuống bể để mà ṃ trai?
Thuốc men tẩm bổ đêm ngày
Bao con tê giác lạc bầy Việt Nam? (3)
Nh́n ông tôi nhớ núi Lam
Nhớ vua Thái Tổ, nhớ thần Ức Trai (4)
Hỏi ông để biết mà chơi
Lật qua trang sử của thời xa xưa!

(Bắc Kinh, ngày 01 tháng 7, 2002)

Chú thích: (1) Vĩnh Lạc là niên hiệu của vua Minh Thành Tổ (1402-1425). (2) Vua Vĩnh Lạc đă cho xây Cấm Thành ở Bắc Kinh, toàn bộ quần thể kiến trúc khổng lồ này được quét vôi màu đỏ tím. (3) Tác giả nhắc đến việc các vua Việt Nam có lệ cống sừng tê giác cho các hoàng đế Trung Quốc. (4) Núi Lam là vùng Lam Sơn, nơi khởi nghiệp của Lê Lợi, người đă đánh đuổi quân nhà Minh sang xâm lược và chiếm đóng Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 15, và là người đă khai sáng ra triều đại nhà Lê trong Lịch-sử Việt Nam; Thái Tổ là miếu hiệu của Lê Lợi; Ức Trai là bút hiệu của Nguyễn Trăi, người có công pḥ giúp Lê Lợi trong 10 năm kháng chiến; Hai câu này có lẽ là hai câu cảm động nhất trong bài thơ, cả về ư lẫn t́nh.

Xin xem Phần II - những bài thơ về sông Dương Tử của nhà thơ Hoàng Duy (Lê Văn Ba).

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved