Voyages Saigon, Inc.

             destinations

               hot news

 

MỸ THUẬT PHẬT GIÁO
Ở BỈNH LINH TỰ – CAM TÚC

 

page 01

 

Cách Lan Châu, thủ phủ của tỉnh Cam Túc (Trung Quốc), 75 km (47 miles) về phía tây-nam, con sông Hoàng Hà đột ngột đổi hướng và bắt đầu chảy vào cao nguyên hoàng-thổ của vùng Hoa Bắc. Ở nơi đây, thiên nhiên cùng với ḍng chảy của nó – và thật không ai rơ là do hữu ư hay vô t́nh – đă cắt gọt những quả núi ở hai bên bờ sông thành hàng trăm vách đá cao ngất với h́nh thù kỳ dị. Vào đầu thế kỷ thứ 7, nhà sư Huyền Trang trên đường sang Ấn Độ để thỉnh kinh, khi đi qua nơi đây đă không khỏi kinh ngạc trước công tŕnh kỳ diệu của thiên nhiên, và đă ví những khối đá sa thạch lừng lững ấy với một rừng bảo tháp (stupas) của Phật-giáo.
Đây là nơi mà, vào thời kỳ thịnh đạt của Con đường Tơ lụa (từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10), những đoàn lữ hành tiếp nối nhau vượt qua sông Hoàng Hà để bắt đầu hành tŕnh dài trên “hành lang Hà Tây” dẫn vào sa mạc Gobi và Taklamakan. Đây cũng là nơi mà Phật-giáo, trên con đường du nhập vào Trung Quốc, lần đầu tiên gặp gỡ một con sông lớn là sông Hoàng Hà, và kể từ nơi đây ḍng nước mănh liệt của nó đă trở thành phương tiện chuyên chở giáo lư từ bi của đức Phật vào tưới đẫm cho khắp cả vùng Hoa Bắc rộng lớn.
Từ thế kỷ thứ 4 trở đi, những cộng đồng Phật tử lần lượt xuất hiện và phát triển lớn mạnh dọc theo Con đường Tơ lụa, cũng như dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà. Với mục đích hoằng dương Chánh pháp do giới Tăng già chủ xướng, và được tài trợ một cách hào phóng bởi các phường thương buôn giàu có cũng như giai cấp quư tộc cầm quyền, nhiều đền chùa và hang động được xây dựng và trở thành những khu thánh địa đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của nền Mỹ thuật Phật-giáo tại Trung Quốc. Bỉnh Linh Tự ở Cam Túc là một trong số những khu thánh địa ấy, bên cạnh những hang động được xây dựng cùng thời như Bezeklik (Tân Cương) hay Đôn Hoàng (Cam Túc), và những hang động được xây dựng trễ hơn trong quá tŕnh “Trung Quốc hóa” của Mỹ thuật Phật-giáo như Đại Đồng (Sơn Tây) hay Long Môn (Hà Nam).
Bỉnh Linh là tên phiên âm từ tiếng Tạng ra tiếng Hán, có nghĩa là “Vạn Phật”. Bỉnh Linh Tự ra đời vào khoảng thời gian từ cuối Lưỡng Tấn đến đầu Bắc Ngụy (đầu thế kỷ thứ 5), và cho đến thế kỷ thứ 8 nó nằm trong vùng đất tranh giành giữa Trung Quốc và Tây Tạng. Người xưa đă xây dựng khu thánh địa này bằng cách đào đục thẳng vào trong vách núi đá, tạo thành hàng trăm hang động lớn nhỏ, trông giống như mặt tổ ong. Về mỹ thuật tạo h́nh, có điêu khắc trên đá, tượng phù điêu ch́m và nổi, và tranh bích họa. Tượng lớn nhất cao 27 mét (89 feet), và nhỏ nhất 20 cm (08 inches). Khi thưởng ngoạn Mỹ thuật Phật-giáo ở Bỉnh Linh Tự, chúng ta có thể nh́n thấy sự phát triển từ phong cách Gandhara qua phong cách Nam Bắc Triều đến phong cách Tùy-Đường, đồng thời có sự pha trộn của phong cách tiền-Sakya trong Mỹ thuật Phật-giáo Tây Tạng. Các thời kỳ về sau (Tống, Nguyên, Minh, Thanh) chỉ để lại những dấu vết của công việc trùng tu và tôn tạo.
Qua một số ảnh chọn lọc, chúng tôi muốn giới thiệu với quư khách hàng và độc giả về Mỹ thuật Phật-giáo thời kỳ sơ-khai ở Trung Quốc, mà các hang động ở Bỉnh Linh Tự (Cam Túc), tuy ở quy mô khiêm tốn, vẫn xứng đáng là một đại diện tiêu biểu và xuất sắc.
VOYAGES SAIGON.

[Ảnh chụp: Trần Chính; Máy sử dụng: Nikon F5 với ống kính Nikkor 28-70mm. Do ảnh chụp được thu nhỏ lại để đưa lên trang Web nên chất lượng bị giảm đi rất nhiều]

 

Đường từ Lan Châu đi Bỉnh Linh Tự, một nửa là núi cao, bởi v́ tỉnh Cam Túc là nơi cao nguyên Tây Tạng - Thanh Hải và cao nguyên hoàng thổ của miền Hoa Bắc nối tiếp nhau,

và nửa c̣n lại là sông lớn...
Con sông lớn Hoàng Hà!

BỈNH LINH TỰ.
Trước mắt chúng tôi là những vách đá cao sừng sững được thiên nhiên cắt gọt thành những h́nh thù kỳ dị, trên đó có hàng trăm hang động chứa đựng hàng ngh́n tác phẩm vô giá của Mỹ thuật Phật-giáo.

Động số 3.
Thời kỳ Sơ Đường (thế kỷ thứ 7). Đức Phật tổ, chư Phật và chư Bồ-tát. Bích họa theo kiểu tranh Thangka của Phật-giáo Mật-tông Tây Tạng. Bức tranh này đă được vẽ lại nhiều lần. Màu xanh lá cây c̣n khá tươi là dấu vết phục chế vào cuối đời Minh (nửa đầu thế kỷ thứ 17).

Động số 3.
Hàng trên: một vị Bồ-tát và hai vị lạt-ma mũ vàng; Hàng dưới: chư Phật. Bích họa. H́nh tượng của hai vị lạt-ma và phong cách Gelug khiến tôi nghi ngờ rằng phần này đă được vẽ thêm hoặc vẽ chồng lên vào nửa cuối thế kỷ thứ 17 (đầu đời Thanh).

Động số 3.
Phật Như-lai (Maitreya). Bích họa. Phong cách tiền-Sakya, mang đậm ảnh hưởng của mỹ thuật Pala (Ấn Độ), khiến tôi càng tin rằng nhiều phần của bức bích họa đă được vẽ lại sau thế kỷ thứ 10.

Động số 3.
Thời kỳ Sơ Đường (thế kỷ thứ 7). Đức Phật tổ, một đệ tử của ngài và hai vị Bồ-tát. Phù điêu nổi chạm trong vách đá. Vị Bồ-tát phía tay phải đă bắt đầu có dáng vẻ của một phụ nữ, rất có thể là Quan Âm Bồ-tát (Avalokitesvara).

 

pages  02   03   04   05   06

trang 01

 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved